Đọt cam, quýt, bưởi mới ra mà lá vàng giữa các gân, gân vẫn xanh, lá nhỏ, nhọn, dựng đứng thì rất có thể vườn đang thiếu kẽm, mangan, hai vi lượng cây có múi hay thiếu nhất. Đất kiềm, đất bón nhiều vôi hay đất cát bị rửa trôi làm rễ hút kém, nên khuyến nông các nước chọn phun lá để chữa nhanh. Bài này tổng hợp công thức của cơ quan nông nghiệp bang New South Wales (NSW DPI, Úc), Đại học Florida (UF/IFAS, Mỹ) và Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU, Ấn Độ), quy ra cho 100 lít và bình 20 lít.

Nhận biết thiếu kẽm, thiếu mangan

  • Thiếu kẽm: dải xanh không đều dọc gân chính, gân lớn, nền lá vàng nhạt đến gần trắng. Nặng thì lá nhỏ, hẹp, nhọn, dựng đứng, cành đọt khô dần từ ngoài tán; trái nhỏ, vỏ nhạt, mỏng, ít nước.

  • Thiếu mangan: giữa các gân xanh nhạt, gân xanh đậm, nhưng lá còn khá xanh nên hoa văn mờ hơn. Lá không nhỏ đi, không méo, đó là chỗ khác thiếu kẽm, nhưng dễ rụng sớm.

  • Hai chứng hay đi chung. Bón dư lân, dư đạm hoặc nhiều phân gà có thể làm thiếu kẽm nặng thêm (UF/IFAS).

Muốn chắc thì phân tích lá lộc xuân 4–6 tháng tuổi trên cành không trái: theo UF/IFAS, kẽm hoặc mangan dưới 18 ppm là thiếu, 25–100 ppm là tối ưu. Thiếu mangan nhẹ, thoáng qua thì chưa cần xử lý.

Phun vào lúc nào?

  • Đúng đợt lộc non: NSW DPI phun khi lá lộc lớn khoảng 1/2–2/3; UF/IFAS phun khi lá đạt 2/3 đến gần trưởng thành, trước khi lá cứng.

  • Đừng phun khi lộc chưa nhú: đọt mới khó kéo kẽm, mangan từ lá già sang, nên phun sớm về lý thuyết không có tác dụng (NSW DPI).

  • Thiếu nặng thì phun mỗi đợt lộc chính, vì kẽm không tự chuyển sang đợt lộc sau.

  • Bo thì khác: UF/IFAS khuyên phun lúc mầm hoa đang phát triển, vì bo khó di chuyển tới nụ.

Công thức pha cho 100 lít và bình 20 lít

Công thức 1 – kẽm, mangan, urê (NSW DPI)

  • 100 lít nước: 150 g kẽm sunfat loại 7 nước (23% Zn) + 100 g mangan sunfat + 500 g urê ít biuret.

  • Bình 20 lít: 30 g kẽm sunfat + 20 g mangan sunfat + 100 g urê.

  • Dùng kẽm sunfat 1 nước (khoảng 35% Zn) thì quy theo kẽm nguyên chất: 150 g × 23% ≈ 34,5 g kẽm, tương đương khoảng 100 g/100 lít (20 g/bình). Tài liệu không ghi mangan sunfat loại mấy nước.

Công thức 2 – khi trời có thể mưa (NSW DPI)

100 lít: 500 g kẽm sunfat (23% Zn) + 250 g vôi tôi; bình 20 lít: 100 g + 50 g. Để lại vết trắng nhưng bám lâu hơn khi có thể mưa trong 48 giờ. Công thức này chỉ có kẽm.

Công thức 3 – TNAU (cam ngọt, Ấn Độ)

Kẽm sunfat 0,5% và mangan sunfat 0,05%, tức 500 g + 50 g cho 100 lít (100 g + 10 g cho bình 20 lít), kèm sắt, magie, bo, molipđen; phun 3 tháng một lần lúc ra lộc. TNAU không ghi bo dùng chất gì nên đừng tự quy. Lượng kẽm sunfat gấp hơn ba lần công thức 1 mà không kèm vôi, càng phải thử vài cây trước.

Tính theo hecta (UF/IFAS)

  • Kẽm: 3–5 pound/mẫu Anh, đổi ra ≈ 3,4–5,6 kg Zn/ha (1 pound/mẫu Anh ≈ 1,12 kg/ha); quy ra kẽm sunfat loại 35% Zn ≈ 9,6–16 kg/ha.

  • Mangan (đất kiềm, bón nhiều vôi): cũng 3,4–5,6 kg Mn/ha, tức mangan sunfat loại 32% Mn ≈ 10,5–17,5 kg/ha. Cần thêm đạm thì cho 7,8–11,2 kg urê ít biuret/ha, mangan thấm tốt hơn.

  • Bo: duy trì 0,28 kg B/ha, có triệu chứng thì gấp đôi; loại ghi 20% B là khoảng 1,4 và 2,8 kg/ha. Đủ và ngộ độc bo cách nhau rất gần, đừng vượt liều.

  • UF/IFAS không ghi lượng nước; chia lượng mỗi ha cho số lít thực phun.

Để ý: công thức 1 nếu phun 3.000 lít/ha cũng chỉ đưa khoảng 1 kg kẽm/ha, thấp hơn mức Florida nhiều. Bà con chọn một công thức, đừng cộng dồn.

Sunfat hay chelate?

UF/IFAS cho biết với kẽm phun lá, dạng vô cơ (sunfat, nitrat, oxit) và dạng tạo phức hữu cơ được hấp thu gần ngang nhau. NSW DPI nêu chelate là phân tử lớn, khó thấm qua sáp lá hơn, nhưng thêm urê thì cây hút nhiều hơn. Nên kẽm sunfat, mangan sunfat rẻ mà đủ hiệu quả; dùng kẽm chelate (Zn-EDTA) thì pha theo hướng dẫn trên bao, không lấy lượng của sunfat.

Lưu ý khi pha

  • Thứ tự: đổ nửa bồn nước, hòa riêng từng loại trong xô cho tan rồi đổ vào, vừa đổ vừa khuấy, sau cùng thêm nước cho đủ.

  • Thử xô: pha thử một xô đúng tỉ lệ; thấy vón, lắng cặn thì không dùng.

  • Chỉ dùng urê ít biuret (khoảng 0,4%); urê thường, biuret khoảng 1,5%, dễ cháy lá.

  • Dung dịch pH khoảng 4–6 là lá hút tốt.

  • Không pha đặc hơn công thức: lá non dễ cháy, dung dịch đặc dồn về chóp gây cháy chóp lá.

  • Không phun lúc nắng gắt; phun sáng sớm khi mát. Cây đang hạn, mặn thì không phun urê liều cao.

  • Phun sương đều, cả mặt dưới lá, ướt nhưng không nhỏ giọt (cây lớn khoảng 2.000–3.000 lít/ha).

  • Thử trên vài cây trước, thấy lá non không cháy mới phun cả vườn.

Tóm lại

Phun khi lá lộc đạt khoảng 1/2–2/3, trước khi lá cứng. Dễ làm nhất là công thức NSW DPI: 30 g kẽm sunfat 7 nước + 20 g mangan sunfat + 100 g urê ít biuret cho bình 20 lít. Phun lúc mát, thử vài cây trước. Bà con cần tư vấn thêm về vi lượng cho cây có múi, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: NSW Department of Primary Industries – Citrus Nutrition in Pakistan (3): Foliar nutrient sprays of citrus (dự án ACIAR); UF/IFAS Extension – Manganese (Mn) and Zinc (Zn) for Citrus Trees (SL403); UF/IFAS Extension – Boron (B) and Chlorine (Cl) for Citrus Trees (SL406); UF/IFAS – Nutrition of Florida Citrus Trees, 3rd Edition, Chapter 3 (SL457); TNAU Agritech Portal – Horticulture: Sweet Orange.

Ảnh minh họa: Gregory Heath, CSIRO, Wikimedia Commons (CC BY 3.0).