Ruộng lúa xanh mướt, nhưng vạch gốc thấy bẹ dưới có những đốm bầu dục xám xanh, viền nâu, loang lổ như vằn da hổ. Đó là bệnh khô vằn. Bệnh âm thầm leo từ bẹ dưới lên lá trên, làm lá khô sớm, cây yếu, dễ đổ, hạt lép nhiều. Theo các tổng quan nghiên cứu quốc tế, nơi bệnh nặng năng suất có thể giảm 20–50%. Cùng xem cách nhận ra bệnh sớm và phòng trừ tổng hợp.
Bệnh khô vằn do đâu?
Thủ phạm là nấm Rhizoctonia solani sống trong đất. Khác với nấm đạo ôn, nấm này không có bào tử bay theo gió. Nó lây bằng cách sợi nấm bò dần: từ bẹ lên lá, từ dảnh này sang dảnh kia, sang cây bên cạnh khi lá chạm lá hoặc men theo mặt nước. Vì vậy ngoài ruộng bệnh thường xuất hiện thành từng ổ tròn rồi loang rộng.
Giữa hai vụ, nấm sống sót nhờ hạch nấm (những hạt nhỏ, cứng, có vỏ không thấm nước nên nổi được) và sợi nấm trong rơm rạ. Khi cho nước vào ruộng, hạch nấm trôi dạt, bám vào bẹ lúa ngay mép nước rồi gây bệnh. Theo Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), ruộng bệnh nặng có thể tạo tới khoảng 2 triệu hạch nấm mỗi mét vuông. Nấm còn hại đậu tương, ngô, mía và cỏ họ lúa, nên cỏ trên bờ là chỗ trú của nấm.
Nhận biết bệnh khô vằn
Bệnh gặp từ đẻ nhánh đến chín sữa, thường rõ từ cuối đẻ nhánh, khi lúa vươn lóng:
Vết bệnh đầu tiên trên bẹ lá sát mặt nước: đốm bầu dục màu xám xanh, dài chừng 1–3 cm.
Vết lớn dần, giữa trắng xám, viền nâu; nhiều vết nối nhau thành mảng loang lổ như da rắn, da hổ.
Trên phiến lá, vết bệnh hình dạng không đều; lá chuyển vàng cam rồi khô sớm.
Gặp trời thuận lợi, bệnh leo lên các lá trên, có khi tới lá đòng, thân yếu dễ gãy gục.
Bà con dễ nhầm với bệnh thối thân hoặc sâu đục thân. Điểm phân biệt là vết loang lổ, không đều trên bẹ và có hạch nấm nhỏ bám trên vết bệnh.
Khi nào bệnh dễ bùng phát?
Nóng ẩm: theo IRRI, bệnh mạnh khi nhiệt độ khoảng 28–32°C, ẩm độ trong tán lúa 85–100%, nhất là mùa mưa.
Bón thừa đạm làm lá mềm, tán dày. Nghiên cứu cho thấy lượng đạm ảnh hưởng tới mức lây lan còn mạnh hơn mật độ cây.
Sạ dày, cấy dày: lá chạm lá, gốc kín, nấm bò sang cây khác rất nhanh.
Ruộng từng bị bệnh, nhiều rơm rạ, cỏ dại, hoặc luân canh với đậu tương.
Phòng trừ khô vằn tổng hợp
Đến nay chưa có giống lúa kháng hoàn toàn, nên phải phối hợp nhiều biện pháp, không trông hết vào bình thuốc.
1. Làm sạch nguồn bệnh
Dọn sạch cỏ dại trên bờ và trong ruộng, nhất là cỏ họ lúa.
Vớt rác, rơm rạ dồn ở góc ruộng sau khi làm đất, vì chỗ này chứa nhiều hạch nấm.
Ruộng bệnh nặng nhiều vụ nên cày phơi, cho đất nghỉ.
2. Gieo cấy và bón phân hợp lý
Sạ, cấy vừa phải, nới khoảng cách cho tán lúa thông thoáng.
Bón đạm cân đối, chia nhiều lần, không bón dồn làm lúa lốp.
Chú ý kali: nghiên cứu ghi nhận bón đủ kali giúp giảm bệnh, còn thừa lân lại làm bệnh nặng thêm. Có thể bổ sung bằng Kali Sunphat (K2SO4) theo hướng dẫn trên bao bì.
Silic: thí nghiệm dùng trấu hun (nguồn silic) cho thấy bệnh lan chậm hơn mà năng suất không giảm. Có thể tham khảo silic tan Kali Silicat theo hướng dẫn trên nhãn. Kali, silic giúp cây khỏe chứ không thay được thuốc khi bệnh vượt ngưỡng.
Khi có thể, rút nước phơi ruộng sớm trong vụ để hạ ẩm độ gốc lúa, như khuyến cáo của IRRI.
3. Biện pháp sinh học
Nghiên cứu cho thấy nấm Trichoderma, xạ khuẩn Streptomyces, vi khuẩn Bacillus và Pseudomonas có thể kìm hãm nấm khô vằn, nhưng hiệu quả ngoài đồng còn tùy chủng và cách dùng, nên chủ yếu dùng để phòng.
4. Thăm đồng, phun thuốc đúng lúc
Thấy vài vết bệnh chưa có nghĩa là phải phun ngay. Khuyến nông Đại học Arkansas (Mỹ) hướng dẫn:
Thăm đồng từ khi lúa bắt đầu vươn lóng tới khi trổ, đi zíc zắc qua giữa ruộng, không chỉ nhìn ở bờ.
Với giống nhiễm, khi khoảng 35% số điểm kiểm tra có bệnh thì nên xử lý; giống nhiễm vừa khoảng 50%. Đây là ngưỡng dùng ở Mỹ, bà con xem như mốc tham khảo.
Thời điểm phun thường từ phân hóa đòng đến khi bẹ đòng vừa nứt. Trời khô, bệnh chậm, 3 lá trên cùng chưa bị đe dọa thì có thể hoãn; đạt ngưỡng sớm mà trời nóng ẩm thì đừng chần chừ.
Không phun định kỳ theo lịch, dễ làm nấm kháng thuốc.
Các hoạt chất được nghiên cứu nhiều cho khô vằn gồm nhóm strobilurin (như azoxystrobin), nhóm triazole (như hexaconazole, difenoconazole) và validamycin. Chỉ dùng thuốc có đăng ký cho khô vằn trên lúa, pha theo hướng dẫn trên nhãn, phun kỹ vào gốc và bẹ, luân phiên hoạt chất khác nhóm.
Lưu ý
Đợi bệnh lên lá đòng mới phun thì hiệu quả kém.
Đừng bón thêm đạm cho ruộng đang bị khô vằn.
Mặc đồ bảo hộ khi phun, giữ đúng thời gian cách ly ghi trên nhãn.
Tóm lại
Khô vằn là bệnh của ruộng “quá tốt, quá dày, quá ẩm”. Sạch cỏ, sạ cấy vừa phải, bón đạm cân đối, đủ kali, thăm đồng đều và chỉ phun khi vượt ngưỡng là cách giữ lúa đỡ tốn kém nhất.
Bà con cần tư vấn thêm về dinh dưỡng cho lúa, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: IRRI – Rice Knowledge Bank, Factsheet “Sheath blight”; LSU AgCenter – “Sheath Blight of Rice” (Pub. 3123); University of Arkansas Division of Agriculture – “Scout for Rice Sheath Blight and Relieve its Harm”; Senapati và cộng sự (2022), “Rhizoctonia solani Kühn Pathophysiology: Status and Prospects of Sheath Blight Disease Management in Rice”, Frontiers in Plant Science.