Lá lúa lốm đốm chấm nâu như tàn thuốc rơi, nhiều bà con tưởng cháy lá hay nhầm là đạo ôn. Rất có thể đó là bệnh đốm nâu (còn gọi là tiêm lửa). Theo Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), đây là một trong những bệnh lúa phổ biến và gây hại nhiều nhất nhưng hay bị xem nhẹ. Bệnh thường báo hiệu ruộng đất nghèo, cây đói dinh dưỡng, nên phòng phải bắt đầu từ đất và hạt giống.

Bệnh đốm nâu do đâu mà có?

Thủ phạm là nấm Bipolaris oryzae (tên cũ Helminthosporium oryzae). Nấm tấn công bao lá mầm, lá, bẹ lá, cổ gié, vỏ trấu và hạt. Bệnh gặp ở mọi giai đoạn, nhưng IRRI lưu ý thời kỳ nguy hiểm nhất là từ đẻ nhánh rộ đến lúc lúa chín. Bào tử bay theo gió, có khi đi rất xa. Nguồn bệnh chủ yếu đến từ:

  • Hạt giống nhiễm bệnh: nấm sống trong hạt được hơn bốn năm, gieo xuống cho ra mạ bệnh.

  • Lúa chét, rơm rạ của vụ trước còn mang nấm.

  • Cỏ dại, nhất là cỏ họ hòa thảo.

Điều kiện nào làm bệnh nặng thêm?

  • Ẩm độ cao, lá ướt lâu: theo IRRI, bệnh phát triển khi ẩm độ không khí 86–100%, nhiệt độ khoảng 16–36°C, và lá phải ướt liên tục 8–24 giờ thì nấm mới xâm nhiễm được. Sương nhiều, mưa dầm là lúc phải để ý.

  • Đất nghèo: bệnh hay gặp ở ruộng không giữ được nước, đất bạc màu hoặc tích tụ chất độc. Các nhà khoa học Brazil và Mỹ ghi nhận đất thiếu kali, silic, canxi, magie, mangan, sắt đặc biệt dễ bị bệnh.

  • Bón đạm lệch: ở lúa cạn, cả thiếu lẫn thừa đạm đều làm cây dễ nhiễm hơn.

  • Trổ gặp mưa liên tục: hạt bị lem, đen vỏ nặng hơn.

Cách nhận biết bệnh đốm nâu

Trên mạ

Mạ có vết nhỏ, tròn, màu vàng nâu hoặc nâu, có khi bao quanh bao lá mầm làm lá mạ méo. Hạt giống nhiễm nặng có thể làm chết 10–58% số mạ (IRRI).

Trên lá và bẹ lá

  • Lúc đầu là chấm nhỏ, tròn, nâu sẫm đến nâu tím.

  • Khi phát triển đủ, vết bệnh tròn hoặc bầu dục, giữa nâu nhạt hoặc xám, viền nâu đỏ, nhiều khi có quầng vàng bên ngoài.

  • Trên giống nhiễm, vết dài 5–14 mm, nhiều vết liền nhau làm khô cả lá. Trên giống kháng, vết chỉ bằng đầu kim.

Trên bông và hạt

Vỏ trấu, cổ gié có đốm nâu đậm đến đen. Hạt vào chắc kém, lép lửng, gạo có vết đốm, ảnh hưởng cả khâu phơi sấy, xay xát.

Phân biệt với đạo ôn

Vết đạo ôn thường hình thoi, hai đầu nhọn. Vết đốm nâu thì tròn, tâm xám, viền nâu đỏ. IRRI lưu ý ở vài giống hai bệnh dễ lẫn, nên cần nhìn kỹ trước khi xử lý.

Thiệt hại có đáng lo không?

Theo IRRI, bình quân bệnh làm giảm khoảng 5% năng suất lúa nước ở Nam Á và Đông Nam Á, ruộng nhiễm nặng có thể mất tới 45%. Bệnh đốm nâu từng được xem là nguyên nhân chính gây nạn đói Bengal năm 1943.

Quản lý bệnh: gốc rễ là đất và hạt giống

1. Bồi dưỡng đất – bước đầu tiên

  • Kiểm tra dinh dưỡng đất định kỳ, bón đủ và cân đối, không bón lệch đạm.

  • Ruộng nghèo kali cần bổ sung đủ kali, ví dụ kali sunphat.

  • Ruộng thiếu silic: IRRI khuyên bón lót xỉ silicat canxi trước khi gieo cấy. Một thí nghiệm đăng trên tạp chí Tropical Plant Pathology (2012) cho thấy bón silic càng nhiều thì bệnh trên lá càng giảm, hạt bớt lem và hạt chắc nặng hơn. Bà con có thể tham khảo thêm silic tan (kali silicat), pha theo hướng dẫn trên bao bì.

  • Đất thiếu trung vi lượng có thể bổ sung qua lá, như bộ trung, vi lượng cho lúa.

IRRI cũng nói rõ: cải tạo đất tốn kém và có khi vài vụ mới thấy hiệu quả, nên cần làm song song các biện pháp dưới đây.

2. Chọn giống kháng

Giống kháng hoặc chống chịu là cách tiết kiệm và bền vững nhất (một nghiên cứu năm 2024 trên tạp chí PLoS One cũng khẳng định). Bà con hỏi cơ quan nông nghiệp địa phương về giống phù hợp vùng mình.

3. Xử lý hạt giống

  • Ngâm nước nóng: theo IRRI, ngâm hạt trong nước 53–54°C trong 10–12 phút trước khi gieo; ngâm nước lạnh khoảng 8 giờ trước đó sẽ tăng hiệu quả. Phải dùng nhiệt kế vì nước quá nóng làm chết mầm, nên thử trước một ít hạt.

  • Xử lý hạt bằng thuốc: IRRI nêu các hoạt chất như iprodione, propiconazole, azoxystrobin, trifloxystrobin, carbendazim. Chỉ dùng thuốc có đăng ký cho lúa, đúng liều trên nhãn.

4. Vệ sinh đồng ruộng

  • Dọn lúa chét, cỏ dại quanh bờ; cày vùi rơm rạ bệnh sau thu hoạch.

  • Giữ nước ruộng hợp lý, tránh để ruộng khô nứt kéo dài.

Lưu ý

  • Thấy lá có đốm đừng vội phun thuốc. Xem ruộng có đói phân, thiếu nước không, vì gốc chưa sửa thì phun thuốc chỉ đỡ phần ngọn.

  • Khi dùng thuốc, tuân thủ thời gian cách ly ghi trên nhãn.

Tóm lại

Bệnh đốm nâu lúa hay đi kèm đất nghèo, cây đói dinh dưỡng. Phòng tốt nhất là hạt giống sạch, giống kháng, bón cân đối, đủ kali và silic, và vệ sinh ruộng sau mỗi vụ. Nhận đúng vết tròn, tâm xám, viền nâu đỏ sẽ tránh nhầm với đạo ôn.

Bà con cần tư vấn thêm về dinh dưỡng cho lúa, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) – Rice Knowledge Bank, “Brown spot”; Pacific Pests, Pathogens and Weeds (Đại học Queensland, ACIAR) – “Rice brown leaf spot”; Prabhu và cộng sự (2012), Tropical Plant Pathology – “Silicon reduces brown spot severity and grain discoloration on several rice genotypes”; Shamshad và cộng sự (2024), PLoS One – nghiên cứu chỉ thị sinh hóa kháng bệnh đốm nâu ở lúa.

Ảnh minh họa: Donald Groth, Louisiana State University AgCenter, Wikimedia Commons (CC BY 3.0 US).