Nhiều nhà vườn đã lắp tưới nhỏ giọt và muốn tự trộn phân tan để châm theo nước tưới. Bài này chia sẻ công thức NPK 8-8-22+TE dạng bột tan: nhiều kali, đạm và lân vừa phải, kèm canxi, magie, lưu huỳnh và vi lượng chelate, hợp với cây ăn trái, rau ăn quả trồng trên đất ở giai đoạn nuôi trái, khi cây cần kali để trái lớn, chắc, lên màu.
Thành phần cho 100 kg thành phẩm
| Nguyên liệu | Lượng cho 100 kg | Vai trò |
|---|---|---|
| Kali nitrat (KNO3, N 13%, K2O 46%) | 47,5 kg | Nguồn kali chính và đạm nitrat |
| Canxi chelate (Ca-EDTA, Ca 10%) | 25 kg | Canxi dạng chelate, ít kết tủa với lân, sunphat |
| MAP 12-61 (mono amoni phốt phát) | 13 kg | Lân dễ tan và đạm amoni |
| Magie sunphat khan (MgSO4, Mg 20%, S 25%) | 12,5 kg | Magie cho lá xanh, lưu huỳnh |
| Urê (N 46%) | 0,75 kg | Bổ sung chút đạm |
| Kẽm chelate (Zn-EDTA, Zn 15%) | 0,6 kg | Vi lượng kẽm |
| Mangan chelate (Mn-EDTA, Mn 13%) | 0,3 kg | Vi lượng mangan |
| Solubor (B 20,5%) | 0,25 kg | Bo cho đậu trái, vận chuyển đường |
| Đồng chelate (Cu-EDTA, Cu 15%) | 0,1 kg | Vi lượng đồng |
| Tổng | 100 kg | Không có chất độn |
| Hàm lượng thành phẩm | N 8,08% (nitrat 6,18%, amoni 1,56%, urê 0,35%); P2O5 7,93%; K2O 21,85%; S 3,13%; Ca 2,5%; Mg 2,5%; Zn 900 ppm; Mn 390 ppm; Cu 150 ppm; B 513 ppm |
Bộ phận kỹ thuật đã hiệu chỉnh: file gốc đặt tên 13-8-22+TE, nhưng tính lại từng dòng theo hàm lượng chuẩn của nguyên liệu thì đạm chỉ đạt 8,08%, thiếu gần 5 điểm; lân 7,93% và kali 21,85% thì khớp. Muốn đủ 13% đạm phải thêm khoảng 10,7 kg urê và bớt canxi hoặc magie, tức thành công thức khác. Vì vậy bài giữ nguyên tỷ lệ và gọi đúng tên theo hàm lượng thực tế: NPK 8-8-22+TE.
Nguyên liệu: cách chọn và tác dụng từng loại
Kali nitrat: gần một nửa công thức. Chọn tinh thể trắng, khô rời, tan trong veo; hàng kém ẩm, vón, tan còn cặn.
Canxi chelate Ca-EDTA: canxi được EDTA "bọc" lại nên ít phản ứng với lân, sunphat hơn canxi nitrat. Dùng loại tan hoàn toàn như Canxi chelate Ca-EDTA.
MAP 12-61: lân tan nhanh, dung dịch hơi chua. Chọn loại tan hoàn toàn như MAP 12-61, không dùng MAP hạt bón gốc.
Magie sunphat khan: nhiều magie hơn loại ngậm 7 nước. Dùng MgSO4 khan dạng bột khô; loại này hút ẩm mạnh, mở bao là phải buộc kín ngay.
Kẽm, mangan, đồng dạng EDTA và Solubor: cần rất ít nhưng quan trọng; đừng thay bằng kẽm sunphat, đồng sunphat thường vì dễ kết tủa với lân.
Cách trộn
Cách 1: trộn sẵn thành bao (tiện, dùng khi pha loãng)
Trộn nơi khô, dụng cụ khô. Các chất liều nhỏ (kẽm, mangan, đồng chelate, Solubor) trộn trước với 2–3 kg kali nitrat cho đều, rồi đổ vào phần nguyên liệu còn lại, đảo kỹ đến khi đều màu, đóng bao kín.
Lúc dùng: hòa mỗi kg phân vào ít nhất 20 lít nước sạch, khuấy tan hết rồi mới cho bơm hút; pha bao nhiêu dùng trong ngày bấy nhiêu.
Cách 2: tách hai bồn A – B (khi bơm châm cần dung dịch mẹ đậm)
Nếu bơm châm phân của bà con cần dung dịch mẹ đậm đặc, đừng trộn sẵn chung một bao mà chia làm hai phần, mỗi phần hòa một bồn:
| Bồn | Thành phần cho 100 kg công thức | Cộng |
|---|---|---|
| Bồn A | Canxi chelate 25 kg + kali nitrat 25 kg | 50 kg |
| Bồn B | MAP 13 kg + magie sunphat khan 12,5 kg + kali nitrat 22,5 kg + urê 0,75 kg + kẽm chelate 0,6 kg + mangan chelate 0,3 kg + Solubor 0,25 kg + đồng chelate 0,1 kg | 50 kg |
Hai bồn pha cùng lượng nước, châm cùng tỷ lệ để nước tưới cuối vẫn đúng 1 g hỗn hợp mỗi lít. Cách này đúng lời khuyên của Khuyến nông Đại học Mississippi: không trộn phân canxi, phân lân với sunphat trong dung dịch đậm đặc.
Lưu ý khi trộn
Kali nitrat là chất khó tan nhất. Theo Khuyến nông Đại học Mississippi, nước lạnh chỉ hòa tan khoảng 108 pound kali nitrat trong 100 gallon, tức chừng 120 g mỗi lít; khuấy liên tục hoặc nước ấm thì tan nhiều hơn. Pha 20 lít cho mỗi kg hỗn hợp là dư sức tan.
Không thay canxi chelate bằng canxi nitrat: canxi tự do gặp sunphat tạo thạch cao, gặp lân tạo cặn.
Đừng để dung dịch mẹ qua nhiều ngày. Bài trình bày về vi lượng tại hội nghị FREP của Bộ Nông nghiệp bang California (2017) lưu ý: vi lượng EDTA không bền lâu trong hỗn hợp nhiều canxi, và khi có lân phải dùng vi lượng chelate hoàn toàn (trừ bo, molipden).
Làm thử trong lọ trước với chính nguồn nước tưới: pha đúng tỷ lệ, để qua đêm, thấy đục hay lắng cặn thì không châm. Nước giếng nhiều vôi dễ kết tủa với lân.
Đeo khẩu trang, găng tay, kính khi cân, trộn; để xa tầm tay trẻ em.
Khi châm phân, Khuyến nông Đại học Mississippi khuyên: điểm châm đặt trước bộ lọc; hệ thống chạy đủ áp rồi mới châm; đầu ống hút cách đáy bồn chừng 30 cm; không châm chung thuốc bảo vệ thực vật hay clo; châm xong tưới thêm nước sạch để xả ống.
Bảo quản
Magie sunphat khan, urê và canxi chelate đều hút ẩm, trộn chung càng dễ vón. Đóng bao kín hai lớp, để nơi khô mát, kê cao khỏi nền; trộn vừa đủ dùng một đợt, ghi ngày trộn. Bột vón cứng thì hòa kỹ, lọc rồi mới cho vào bồn.
Nồng độ sử dụng khuyến cáo
Liều trong công thức gốc: 1 kg phân cho 1.000 lít nước tưới (1 g/L), tức 200 g cho phuy 200 lít; tưới gốc bằng bình 16 lít thì 16 g.
Tổng lượng phân trong nước tưới chỉ 0,1%, nhẹ. Không tăng quá 1 g/L vì lượng bo đã ở mức chuẩn (xem phần dưới).
Lượng phân mỗi tuần tính theo nhu cầu cây và kết quả phân tích đất. Ví dụ của Khuyến nông Đại học Mississippi cho cà chua: khoảng 7–14 pound đạm/mẫu Anh/tuần (chừng 8–16 kg N/ha) tùy giai đoạn; với công thức 8% đạm, tương ứng khoảng 10–19 kg phân cho 1.000 m² mỗi tuần. Cây khác, đất khác phải tính lại.
Ở nồng độ này cây nhận được bao nhiêu
Nồng độ (ppm) = hàm lượng (%) × số gam mỗi lít × 10. Với 1 g/L, so với dung dịch dinh dưỡng chuẩn số 2 trong tài liệu kinh điển của Hoagland và Arnon (Trạm thí nghiệm Nông nghiệp California, 1950):
| Chất | Trong nước tưới (1 g/L) | Dung dịch Hoagland số 2 |
|---|---|---|
| Đạm (N) | khoảng 81 ppm | khoảng 210 ppm |
| Lân (P) | khoảng 35 ppm (79 ppm P2O5) | khoảng 31 ppm |
| Kali (K) | khoảng 181 ppm (219 ppm K2O) | khoảng 235 ppm |
| Canxi (Ca) | 25 ppm | khoảng 160 ppm |
| Magie (Mg) | 25 ppm | khoảng 49 ppm |
| Lưu huỳnh (S) | khoảng 31 ppm | khoảng 64 ppm |
| Bo (B) | khoảng 0,51 ppm | 0,5 ppm |
| Mangan (Mn) | khoảng 0,39 ppm | 0,5 ppm |
| Kẽm (Zn) | khoảng 0,9 ppm | 0,05 ppm |
| Đồng (Cu) | khoảng 0,15 ppm | 0,02 ppm |
Lân, kali gần mức dung dịch chuẩn; đạm, canxi, magie thấp hơn nhiều. Công thức hợp để tưới bổ sung trên đất, không dùng làm dung dịch thủy canh đầy đủ.
Đó là lượng trong nước tưới, không phải lượng cây giữ lại: rễ chỉ hút phần nằm trong vùng ướt quanh béc, nhiều ít tùy đất, bộ rễ, nhiệt độ. Khuyến nông Đại học Mississippi lưu ý tưới quá nhiều nước sẽ đẩy phân trôi khỏi vùng rễ; lân ít di chuyển trong đất nên họ khuyên bón lót lân trước khi trồng.
Riêng bo: theo bài tổng quan của Brdar-Jokanović (Viện Cây trồng Novi Sad, Serbia) trên tạp chí International Journal of Molecular Sciences (2020), khoảng cách giữa thiếu và ngộ độc bo hẹp hơn mọi nguyên tố khác, và ngưỡng bo trong nước tưới để không hại đất lâu dài là 1 mg/L. Công thức cho khoảng 0,5 ppm, an toàn nếu giữ đúng liều.
Tần suất
Khuyến nông Đại học Mississippi cho biết ở điều kiện của họ, châm phân mỗi tuần một lần thường là đủ; đất cát thì chia nhỏ, châm dày hơn. Lượng phân ít lúc cây nhỏ, tăng khi cây mang nhiều trái, giảm dần lúc gần thu hoạch. Giữa các lần châm, cây khát thì cứ tưới nước sạch.
Dùng quá liều / tác dụng không mong muốn
Xót rễ, mặn đất: tự tăng liều, tưới phân liên tục không xen nước sạch làm muối tích quanh rễ, cây héo, cháy mép lá.
Ngộ độc bo: lá vàng, cháy từ chóp và mép lá, thường gặp ở lá già trước. Theo Brdar-Jokanović, bo dồn về chóp và mép lá nên nồng độ ở đó cao hơn hẳn phần còn lại. Đừng dùng chung với phân bo khác.
Nghẹt béc: pha quá đặc, dùng nước cứng hoặc thay canxi chelate bằng canxi nitrat. Cặn đã bám vào béc thì rất khó thông.
Lưu ý pháp lý
Công thức chia sẻ để bà con tham khảo, tự pha dùng trong vườn nhà, không đóng gói để bán hay trao đổi.
Theo Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15), phân bón là hàng hóa kinh doanh có điều kiện, phải có Quyết định công nhận phân bón lưu hành (Điều 36); người sản xuất phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón (Điều 41). Chi tiết tại Nghị định 84/2019/NĐ-CP về quản lý phân bón (đã sửa đổi, đang có hiệu lực).
Dùng nguyên liệu có nhãn, rõ nguồn gốc, mang bảo hộ. Hiệu quả phụ thuộc đất, cây, thời tiết; thử trên vài hàng cây trước.
Tóm lại
NPK 8-8-22+TE là công thức tưới nhỏ giọt giàu kali, có canxi, magie và vi lượng chelate cho giai đoạn nuôi trái. Trộn sẵn thì hòa mỗi kg vào ít nhất 20 lít nước, dùng trong ngày; cần dung dịch mẹ đậm thì tách bồn A – B. Tưới 1 g/L, không tăng liều, châm xong xả nước sạch.
Bà con cần tư vấn thêm về chọn nguyên liệu hay điều chỉnh công thức cho vườn mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Nguồn: Bộ phận kỹ thuật Chelate Asia.
Tài liệu tham khảo: Ayankojo & Snyder (2024), Khuyến nông Đại học Mississippi – Fertigation: the basics of injecting fertilizer for field-grown tomatoes (P2037); CDFA FREP (2017) – Micronutrient formulations and how they fit into nutrient programs; Brdar-Jokanović (2020), International Journal of Molecular Sciences – bo: thiếu và ngộ độc ở cây trồng; Hoagland & Arnon (1950), Trạm thí nghiệm Nông nghiệp California – The water-culture method for growing plants without soil (Circular 347); Luật Trồng trọt 31/2018/QH14 (sửa đổi 2025); Nghị định 84/2019/NĐ-CP.