Cà tím trồng nhỏ giọt mà bón theo kiểu “thấy cây ốm thì cho thêm” thì vừa tốn phân vừa dễ lệch. Bài này gom lại lịch cho phân qua ống nhỏ giọt theo từng giai đoạn từ tài liệu của Đại học Florida (UF/IFAS), rồi quy ra gam phân cho 1.000 m² để bà con dễ áp dụng. Xin nói trước cho rõ: số liệu gốc đo ở đất cát Florida, trồng trên luống phủ màng, nên bà con coi đây là mốc để bắt đầu, rồi chỉnh theo đất và theo cây của mình.

Công thức này dựa vào đâu?

Bảng khuyến cáo của UF/IFAS cho cà tím (trên đất cát nghèo kali) ghi lượng đạm (N) và kali (K2O) bơm mỗi ngày theo tuần sau khi trồng, tính bằng pound trên mẫu Anh mỗi ngày (lb/A/ngày). Mẫu Anh trong bảng được tính theo luống cách nhau 6 feet. Tổng đạm cả vụ ở bảng này khoảng 200 lb/A, tức xấp xỉ 22 kg cho 1.000 m². Tôi đã đổi sang gam cho 1.000 m² mỗi ngày (nhân 112), làm tròn cho dễ nhớ.

Lịch bơm phân theo giai đoạn (cho 1.000 m², mỗi ngày)

  • Tuần 1–2 (cây mới bén rễ): N khoảng 170 g, K2O khoảng 110 g.

  • Tuần 3–4 (phát triển thân lá): N khoảng 225 g, K2O khoảng 170 g.

  • Tuần 5–10 (ra hoa, đậu và nuôi trái): N khoảng 280 g, K2O khoảng 280 g. Cây ăn nhiều nhất, đạm kali ngang nhau.

  • Tuần 11–13 (thu hái kéo dài): N khoảng 225 g, K2O khoảng 170 g. Giảm bớt vì cây đã qua đợt ăn mạnh nhất.

Cộng cả bốn giai đoạn, vụ 13 tuần cần khoảng 22 kg N và 19 kg K2O cho 1.000 m². Bảng gốc của Florida ghi tổng kali cả vụ trong khoảng 130–160 lb/A cho đất thiếu kali, nên con số cộng từ lịch ngày hơi nhỉnh hơn một chút. Bà con có bón lót kali thì cứ trừ bớt, đừng cộng dồn.

Đổi ra loại phân thường dùng

Nếu dùng urê (46% N) làm nguồn đạm và Kali sunfat (SOP, 52% K2O) làm nguồn kali, lượng cần bơm mỗi ngày cho 1.000 m² xấp xỉ như sau (đây là phép tính của tôi từ hàm lượng trên nhãn, bà con nên đối chiếu lại với bao đang dùng):

  • Tuần 1–2: urê 365 g, SOP 215 g.

  • Tuần 3–4: urê 490 g, SOP 325 g.

  • Tuần 5–10: urê 610 g, SOP 540 g.

  • Tuần 11–13: urê 490 g, SOP 325 g.

Vườn tính theo sào Bắc Bộ (360 m²) thì nhân các số trên với 0,36. Ví dụ tuần 5–10, mỗi sào mỗi ngày khoảng 220 g urê và 195 g SOP. Muốn đỡ công, tài liệu của UF/IFAS cho biết nếu ít nguy cơ rửa trôi (tưới đều tay, đất giữ phân tốt) thì có thể gộp lượng của 7 ngày để bơm một lần trong tuần.

Pha bao nhiêu lít nước?

Lượng phân ở trên là lượng bơm mỗi ngày cho cả 1.000 m², còn độ đậm trong ống thì tùy bà con tưới bao nhiêu nước. Ví dụ mỗi lần tưới khoảng 4.000 lít (tương đương lớp nước 4 mm trên 1.000 m²): tuần 5–10 sẽ có 280 g N hòa trong 4.000 lít, tức khoảng 70 mg/lít N và 70 mg/lít K2O. Đây là phép chia đơn giản của tôi, để bà con hình dung độ đậm.

Về thùng pha: hòa lượng phân của một lần bơm vào thùng đủ rộng (ví dụ 200 lít), khuấy đến khi tan hết không còn cặn rồi mới hút vào đường ống. Tài liệu UF/IFAS dặn bơm phân vào cuối buổi tưới và để đủ thời gian cho nước sạch xả hết phân trong ống.

Bón lót thì giảm bớt thế nào?

Lịch trên áp dụng khi không bón lót đạm và kali. Nếu đã bón lót, UF/IFAS hướng dẫn giảm lịch tương ứng. Tài liệu khác của UF/IFAS cho biết khi đó toàn bộ lân, vi lượng cùng 20–40% đạm và kali được bón trước khi trồng, còn việc bơm có thể bắt đầu sau trồng 2–3 tuần, mở đầu chỉ 55–110 g mỗi ngày cho 1.000 m² rồi tăng dần. Lân không nằm trong bảng bơm này nên lo ở khâu bón lót.

Lưu ý khi pha

  • Không pha urê chung thùng với phân canxi, magie, sắt, mangan. UF/IFAS cảnh báo urê thủy phân có thể đẩy pH nước lên trên 9, lúc đó canxi và magie dễ kết tủa làm tắc béc. Khi cây có dấu hiệu thiếu và cần bổ sung magie sunfat hay sắt chelate EDDHA (hai thứ tài liệu cà tím của UF/IFAS nhắc đến), nên bơm vào buổi khác.

  • Canxi nitrat và phân có sunfat hoặc phốt phát phải để thùng riêng. Canxi gặp phốt phát tạo kết tủa không tan, nghẹt đường ống. UF/IFAS lấy ví dụ canxi nitrat với DAP là cặp không được pha chung.

  • Nước nhiễm sắt (trên 0,2 mg/lít) hoặc nước cứng cũng dễ gây tắc béc theo UF/IFAS, nên lọc nước và xả cuối đường ống định kỳ.

  • Mỗi lần pha mới, thử một ít trong lọ nước sạch xem có đục, có cặn không. Lần đầu áp dụng, thử trước trên một vài luống rồi mới làm cả vườn.

Đất của mình khác Florida thì sao?

Đất cát Florida giữ phân kém nên người ta chia nhỏ phân ra từng ngày. Đất thịt, đất đỏ bazan giữ phân tốt hơn, có thể bơm thưa hơn. Cũng đừng bám cứng vào bảng, cần chắc ăn thì nhờ phòng thí nghiệm phân tích đất hoặc lá.

Tóm lại

Cà tím tưới nhỏ giọt nên bón ít lúc đầu, nhiều nhất ở giai đoạn ra hoa nuôi trái (tuần 5–10), rồi giảm khi thu hái kéo dài. Lấy lịch của UF/IFAS làm mốc, quy ra gam cho 1.000 m², tách thùng canxi, và chỉnh theo đất vườn. Bà con cần tư vấn thêm về phân tan cho nhỏ giọt, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Đại học Florida UF/IFAS Extension – Chương 2 “Fertilizer Management for Vegetable Production in Florida” (CV296, bảng 9); “Eggplant Production in Miami-Dade County, Florida” (HS-856); “Commercial Vegetable Fertilization Principles” (SL319/CV009); “How to Reduce Clogging Problems in Fertigation” (HS1202).