Trồng xà lách thủy canh, cả "bữa ăn" của cây nằm trong bồn dung dịch. Pha loãng thì cây còi, pha đậm thì cháy mép lá, pH lệch thì cây vẫn đói. Bài này giới thiệu công thức dung dịch mà Chương trình Nông nghiệp môi trường có kiểm soát (CEA) của Đại học Cornell (Mỹ) dùng cho xà lách trồng bè nổi, quy ra lượng muối cho 1.000 lít, kèm cách theo dõi của Đại học bang Ohio.
Nồng độ mục tiêu theo Cornell
Sổ tay xà lách thủy canh của Cornell (2013) ghi nồng độ cuối cùng trong bồn trồng như sau (ppm tính theo nguyên tố, tức mg nguyên tố trong 1 lít):
Đa, trung lượng: N 125; P 31; K 215; Ca 84; Mg 24; S 35 ppm.
Vi lượng: Fe 0,94; Mn 0,14; Zn 0,13; B 0,16; Cu 0,03; Mo 0,03 ppm.
EC: 1,2 mS/cm (1.150–1.250 µS/cm), tính phần cao hơn EC của nước nguồn.
pH: tốt nhất 5,8; chấp nhận 5,6–6,0.
Hai bồn mẹ A và B
Canxi gặp lân và sunfat ở nồng độ cao sẽ kết tủa, nên Cornell pha hai bồn mẹ riêng, mỗi bồn 300 lít nước RO (nước lọc thẩm thấu ngược):
Bồn A: canxi nitrat 29.160 g; kali nitrat 6.132 g; amoni nitrat 840 g; sắt chelate DTPA (10% Fe) 562 g.
Bồn B: kali nitrat 20.378 g; monokali photphat (MKP) 8.160 g; kali sunfat 655 g; magie sunfat 7.380 g; mangan sunfat 25,6 g; kẽm sunfat 34,4 g; axit boric 55,8 g; đồng sunfat 5,6 g; natri molypdat 3,6 g.
Khi dùng, cho lượng bằng nhau của hai bồn vào nước RO đến khi EC đạt 1,2 mS/cm. Đối chiếu với bảng nồng độ, chúng tôi tính ra mỗi 1.000 lít cần khoảng 5 lít bồn A + 5 lít bồn B. Đây là số quy đổi; thực tế vẫn châm theo máy đo EC.
Quy đổi: pha thẳng 1.000 lít
Lấy công thức bồn mẹ chia cho 60 được lượng cho 1.000 lít (làm tròn):
Nhóm A (hòa trước): canxi nitrat 486 g; kali nitrat 102 g; amoni nitrat 14 g; sắt DTPA 10% khoảng 9,4 g.
Nhóm B (hòa sau): kali nitrat 340 g; MKP 136 g; kali sunfat 11 g; magie sunfat 123 g; mangan sunfat 0,43 g; kẽm sunfat 0,57 g; axit boric 0,93 g; đồng sunfat 0,09 g; natri molypdat 0,06 g.
Vi lượng quá ít, khó cân chuẩn: cân gấp 10 lần, hòa vào 1 lít nước, mỗi lần pha 1.000 lít lấy 100 ml.
Ghi chú về dạng muối (quy đổi của chúng tôi)
Magie: tính ngược từ 24 ppm Mg và 35 ppm S, 123 g khớp với magie sunfat khan. Loại ngậm 7 nước (MgO 16%) thì 123 g chỉ cho khoảng 12 ppm Mg; muốn đủ 24 ppm cần khoảng 243 g.
Canxi: 486 g khớp với canxi nitrat ngậm 4 nước (khoảng 82 ppm Ca). Canxi nitrat cấp phân bón (CaO 26%) cùng 486 g cho khoảng 90 ppm Ca và khoảng 5 ppm đạm amoni, nhiều hơn phần amoni của 14 g amoni nitrat (khoảng 2,5 ppm).
Sắt: dùng sắt EDTA 13% thay sắt DTPA thì cần khoảng 7,2 g cho 1.000 lít để có 0,94 ppm Fe.
Kẽm: 0,57 g khớp với kẽm sunfat ngậm 7 nước; loại 1 nước (35% Zn) chỉ cần khoảng 0,37 g.
Theo dõi và điều chỉnh hằng ngày
Đo pH, EC, oxy hòa tan mỗi ngày; hiệu chuẩn máy đo mỗi tuần (Đại học bang Ohio).
EC tăng do nước bốc hơi: thêm nước sạch. EC giảm do cây ăn bớt phân: châm thêm bồn A và B bằng nhau. Nhớ trừ EC nước nguồn.
pH cao hạ bằng axit nitric, pH thấp nâng bằng kali hydroxit (KOH); thêm từng ít, khuấy đều rồi đo lại. pH cao làm sắt dễ kết tủa, lá non vàng.
Oxy hòa tan: Cornell giữ khoảng 7 ppm; dưới 4 ppm cây chậm lớn, khoảng 3 ppm đã thấy stress. Sục khí bằng đá sủi.
Nhiệt độ nước: Cornell không để quá 25°C; Ohio khuyến cáo 20–22°C. Nước nóng giữ ít oxy.
Bồn có thể dùng qua nhiều lứa, thay mới khi có bệnh rễ hoặc tích tụ chất (Ohio).
Trời nóng, xà lách hay cháy mép lá non
Cháy mép lá non thường không do bồn thiếu canxi mà do cây lớn quá nhanh, canxi chuyển lên lá non không kịp. Thí nghiệm mùa hè trên hệ màng dinh dưỡng (NFT) của Đại học bang Ohio và Bộ Nông nghiệp Mỹ (Samarakoon và cộng sự, 2020) cho thấy:
EC 1,8 mS/cm cho năng suất cao nhất ở giống Green Butter, Red Butter. Ở 1,4 mS/cm, Green Butter ít cháy mép hơn nhưng mỗi cây nhẹ hơn khoảng 75 g.
pH 6,0 và 6,2 cho năng suất cao nhất.
Phun lá canxi clorua 400 hoặc 800 mg Ca/lít, 2 lần mỗi tuần, giảm cháy mép rõ mà ít hại năng suất hơn hạ EC. Quy đổi: 400 mg Ca/lít ứng với khoảng 1,1 g canxi clorua khan mỗi lít nước.
Lưu ý khi pha
Thứ tự: cho khoảng 2/3 lượng nước, hòa tan hết nhóm A, khuấy đều rồi mới hòa nhóm B; thêm nước đủ 1.000 lít, đo EC, chỉnh pH sau cùng.
Không trộn đặc canxi nitrat với MKP, magie sunfat, kali sunfat trong cùng thùng nhỏ: sẽ đóng cặn trắng.
Nước máy có clo: khử clo trước khi cho phân, vì clo có thể phá chelate EDTA, DTPA (Ohio).
Thử trước: đổi công thức thì chạy thử vài khay 5–7 ngày rồi mới áp dụng cả hệ thống.
An toàn: đeo găng, kính khi dùng axit nitric, KOH; luôn đổ axit vào nước, không làm ngược lại.
Tóm lại
Công thức Cornell cho xà lách: N 125, P 31, K 215, Ca 84, Mg 24 ppm cùng đủ vi lượng, EC khoảng 1,2 mS/cm, pH 5,8. Pha hai bồn A, B riêng, châm theo EC, đo pH và oxy mỗi ngày.
Bà con cần tư vấn chọn muối và tính lượng pha cho hệ thủy canh của mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: Cornell University CEA Program – Hydroponic Lettuce Handbook (Brechner, Both và cộng sự, 2013); The Ohio State University – Root Zone Management of Hydroponic Leafy Greens (2019); Samarakoon và cộng sự (2020), Effects of EC, pH, and Foliar Application of Calcium Chloride on Yield and Tipburn of Lactuca sativa (NFT), HortScience 55(8).
Ảnh minh họa: Rémih, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).