Cây mới trồng cần bén rễ nhanh, cây sắp ra hoa cần nhiều năng lượng: đó là lúc nhiều nhà vườn tìm tới phân bón lá nhiều lân. Bài này chia sẻ công thức NPK 10-30-10+TE dạng bột tan: lân gấp ba đạm và kali, kèm bo, kẽm, đồng, amino axit, kali humate. Công thức hợp với cây con sau trồng, cây đang ra rễ, ra đọt non và giai đoạn chuẩn bị phân hóa mầm hoa trên cây ăn trái, rau màu; không thay được phân lân bón gốc.

Thành phần cho 1 kg thành phẩm

Nguyên liệuLượng cho 1 kgVai trò
MAP 12-61 (mono amoni phốt phát)420 gNguồn lân chính, kèm đạm amoni
Kali humate (K2O 10%, humic 65%)255 gAxit humic, chất hữu cơ, thêm ít kali
Kali nitrat (KNO3, 13-0-46)100 gKali và đạm nitrat
MKP (KH2PO4, P2O5 52%, K2O 34%)85 gLân và kali, không kèm clo
Urê (N 46%, ít biuret)65 gĐạm thấm nhanh qua lá
Amino axit 80% (N 13%)50 gĐạm hữu cơ, chất tạo phức nhẹ
Bo tan DOT (dinatri octaborat, B 20,5%)20 gBo cho đọt non, hoa, hạt phấn
Kẽm sunphat loại 1 nước (Zn ~36%)3 gVi lượng kẽm
Đồng sunphat (CuSO4.5H2O, Cu 25%)2 gVi lượng đồng
Tổng1.000 gKhông có chất độn
Hàm lượng thành phẩmN 9,98% (amoni 5,04%, urê 2,99%, nitrat 1,30%, hữu cơ 0,65%); P2O5 30,04%; K2O 10,04%; B 0,41%; Zn 1.080 ppm; Cu 500 ppm; axit humic 16,6%; chất hữu cơ 22,1%

Bộ phận kỹ thuật đã tính lại từng dòng theo hàm lượng chuẩn của nguyên liệu: tổng đúng 100%, khớp tên 10-30-10 nên không phải hiệu chỉnh. Nguyên liệu bà con mua có hàm lượng khác (nhất là kali humate, kẽm sunphat) thì thành phẩm lệch theo.

Nguyên liệu: cách chọn và tác dụng từng loại

  • MAP 12-61: gần một nửa công thức, quyết định chữ "30" lân. Chọn loại tinh thể trắng tan trong veo như MAP 12-61 tan trong nước; MAP hạt xám bón gốc nhiều tạp, hòa còn cặn, không dùng phun lá.

  • MKP: vừa lân vừa kali, rất sạch; chọn tinh thể trắng, khô như MKP (KH2PO4) bón lá.

  • Kali humate: vảy hoặc bột đen bóng, tan cho nước nâu đen. Hàng kém lẫn đất cát, để một lúc thấy lắng đáy.

  • Urê ít biuret: theo GS Carol Lovatt (Đại học California, Riverside), urê phun lá không nên quá 0,25% biuret vì biuret làm vàng lá, cháy chóp lá.

  • Amino axit 80%: bột vàng nhạt, tan nhanh, như Amino axit 80% bột tan. Theo tài liệu của Chương trình nghiên cứu phân bón bang California (CDFA FREP), amino axit là chất tạo phức nhẹ, giúp vi lượng thấm qua lá tốt hơn và giảm tác hại của muối lên lá.

  • Kẽm sunphat phải là loại 1 nước (Zn khoảng 35–36%). Loại 7 nước chỉ khoảng 22% kẽm, dùng thì kẽm thành phẩm chỉ còn khoảng 0,07%.

  • Đồng sunphat: tinh thể xanh lam, nghiền mịn trước khi trộn. Bo tan DOT: bột trắng mịn, tan nhanh.

Cách trộn

  • Trộn nơi khô, dụng cụ khô; chất liều nhỏ cân bằng cân tiểu ly.

  • Bước 1 – trộn mồi: đồng sunphat 2 g, kẽm sunphat 3 g, bo tan 20 g trộn thật đều với khoảng 50–100 g MAP.

  • Bước 2: đổ phần trộn mồi vào MAP, MKP, kali nitrat, urê, amino còn lại, đảo kỹ; cuối cùng cho kali humate vào, trộn đều màu. Công thức không có canxi nên không cần tách bồn A – B.

  • Chia hai túi (khi nước giếng cứng hoặc từng bị vón): túi A gồm kali humate 255 g + amino 50 g; túi B phần còn lại (695 g). Bình 16 lít lấy khoảng 12 g túi A và 28 g túi B; hòa túi A vào bình trước, khuấy đều, rồi mới cho túi B đã hòa sẵn.

Lưu ý khi trộn

  • Kali humate gặp môi trường chua dễ vón. Theo Hiệp hội Quốc tế về Chất mùn (IHSS), axit humic không tan khi môi trường chua mạnh. MAP, MKP làm nước hơi chua; pha loãng thì humate vẫn tan, nhưng hòa đặc trong ít nước hoặc nước cứng có thể nổi bông nâu. Hòa ít nhất 5 lít nước cho mỗi 40 g, không tự đổ axit hạ pH, pha xong phun ngay.

  • Đồng, kẽm sunphat với phốt phát: theo CDFA FREP, dung dịch phốt phát đậm đặc cần vi lượng dạng chelate hoàn toàn (như EDTA) để không kết tủa (bo thì không cần); pha loãng trong bình phun thì tương kỵ thường giảm nhiều. Công thức chỉ có vài ppm đồng, kẽm trong nước phun nên dùng được, nhưng đừng pha sẵn dung dịch mẹ đặc để qua đêm. Nước giếng nhiều vôi thì có thể thay bằng dạng EDTA 15% (khoảng 3,3 g Cu-EDTA và 7,2 g Zn-EDTA cho 1 kg).

  • Luôn thử trong chai trước (CDFA FREP cũng khuyên vậy): pha đúng tỷ lệ vào chai nhựa trong, để 15–20 phút, không vón, không lắng mới pha bình lớn.

  • Pha chung thuốc bảo vệ thực vật: theo Khuyến nông Đại học California, thuốc đóng túi tan trong nước cho vào bình trước, tan hết mới cho phân có bo.

  • Không trộn thêm canxi nitrat hay vôi: canxi gặp phốt phát tạo cặn. Đồng sunphat độc khi nuốt, kích ứng mắt; đeo khẩu trang, găng tay, kính khi cân trộn.

Bảo quản

Urê, amino axit và kali humate đều hút ẩm, trộn chung càng dễ vón. Đóng túi kín hai lớp, để nơi khô mát, ghi ngày trộn; trộn vừa đủ dùng một đợt. Bột vón cứng, chảy nước thì không dùng phun lá.

Nồng độ sử dụng khuyến cáo

  • Liều trong công thức gốc: 2,5 g/lít nước, tức 40 g cho bình 16 lít, 500 g cho phuy 200 lít.

  • Tổng lượng phân trong nước chỉ 0,25%, thấp hơn nhiều mức dễ cháy lá. Cây con, cây đang trổ hoa nên phun thử vài cây, chờ 3–5 ngày rồi mới phun cả vườn.

  • Phun ướt đều hai mặt lá, không để đọng giọt: GS Lovatt ghi nhận phun quá nhiều nước làm dung dịch dồn về chóp lá, dễ cháy chóp. Bà khuyên dung dịch urê phun lá ở pH 5,5–6,5; có bút đo thì kiểm tra, không có thì đừng chỉnh bừa.

  • Phun sáng sớm hoặc chiều mát, không phun trưa nắng gắt hay khi sắp mưa.

Ở nồng độ này cây nhận được bao nhiêu

Nồng độ (ppm) = hàm lượng (%) × số gam mỗi lít × 10. Với 2,5 g/L, trong nước phun có:

ChấtNồng độ trong nước phun (2,5 g/L)
Đạm (N)khoảng 250 ppm
Lân (P2O5)khoảng 751 ppm (tương đương 328 ppm P)
Kali (K2O)khoảng 251 ppm (tương đương 208 ppm K)
Axit humickhoảng 414 ppm
Bo (B)khoảng 10 ppm
Kẽm (Zn)khoảng 2,7 ppm
Đồng (Cu)khoảng 1,25 ppm

Đó là lượng có trong nước phun, không phải lượng cây giữ lại. Theo bài tổng quan của Fernández (Tây Ban Nha) và Brown (Đại học California, Davis) trên tạp chí Frontiers in Plant Science, lượng thấm qua lá phụ thuộc độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, tuổi lá, lớp sáp và tính chất dung dịch, không có một tỷ lệ chung cho mọi cây. Đạm, lân, kali di chuyển mạnh trong cây; kẽm, đồng, bo di chuyển kém hơn, phun kẽm thường chỉ tác dụng tại lá được phun. Lân phun lá đi được tới chỗ cần nhưng mỗi lần chỉ được ít, nên lân vẫn phải chủ yếu bón vào đất.

  • Bo: Khuyến nông Đại học California (hướng dẫn NG8-99) cho phun lá tối đa 2 pound phân bo 20% cho 100 gallon nước, khoảng 2,4 g/L, gần 480 ppm bo. Công thức này chỉ khoảng 10 ppm.

  • Kẽm, đồng: chỉ vài ppm. CDFA FREP lưu ý muối sunphat đơn thuần thấm qua lá kém và dễ hại lá khi pha đậm; ở mức loãng, có amino axit đi kèm, nguy cơ thấp.

Tần suất

Bộ phận kỹ thuật khuyên phun khoảng 10–15 ngày một lần, mỗi giai đoạn 2–3 lần: sau trồng khi cây đã bén rễ, khi ra đọt non, và trước khi phân hóa mầm hoa. Pha chung thuốc thì ngưng trước thu hoạch theo thời gian cách ly của thuốc. Phân bón lá chỉ là phần bổ sung, vẫn phải bón gốc đầy đủ.

Dùng quá liều / tác dụng không mong muốn

  • Cháy lá, cháy mép lá: khi tự tăng liều gấp nhiều lần, phun lúc nắng gắt, phun đẫm đọng giọt, hoặc dùng urê nhiều biuret.

  • Ngộ độc bo: bo có khoảng an toàn hẹp. Khuyến nông Đại học California ghi nhận nho tưới lâu ngày bằng nước chỉ chứa 1 ppm bo cũng có thể bị ngộ độc, nên phải tính tổng bo cả năm. Đừng phun cùng lúc với phân bo khác.

  • Hại lá do đồng: đồng sunphat pha đậm gây cháy lá non. Không tự tăng lượng đồng.

  • Thừa đạm: phun dày cộng bón gốc nhiều đạm làm cây ra đọt liên tục, khó phân hóa mầm hoa. Cây xanh đậm, đọt vống thì giãn lần phun.

  • Nghẹt béc: khi humate vón hoặc hàng lẫn cát; lọc qua lưới mịn trước khi đổ vào bình.

Lưu ý pháp lý

  • Công thức chia sẻ để bà con tham khảo, tự pha dùng trong vườn nhà, không đóng gói để bán hay trao đổi.

  • Theo Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15), phân bón là hàng hóa kinh doanh có điều kiện, phải có Quyết định công nhận phân bón lưu hành (Điều 36); người sản xuất phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón (Điều 41). Chi tiết tại Nghị định 84/2019/NĐ-CP về quản lý phân bón (đã sửa đổi, đang có hiệu lực).

  • Dùng nguyên liệu có nhãn, rõ nguồn gốc, mang bảo hộ. Hiệu quả phụ thuộc đất, cây, thời tiết; thử trên vài cây trước.

Tóm lại

NPK 10-30-10+TE là phân bón lá nhiều lân, có bo, kẽm, đồng, amino axit, kali humate, dùng cho cây con, cây ra rễ, ra đọt, chuẩn bị ra hoa. Pha 2,5 g/L (40 g cho bình 16 lít), thử trong chai trước, phun lúc mát, 10–15 ngày một lần, không tự tăng liều.

Bà con cần tư vấn thêm về chọn nguyên liệu hay điều chỉnh công thức cho vườn mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Nguồn: Bộ phận kỹ thuật Chelate Asia.

Tài liệu tham khảo: Fernández & Brown (2013), Frontiers in Plant Science – sự hấp thu phân bón qua lá; CDFA Fertilizer Research and Education Program (2017) – tương thích của vi lượng với phân bón lỏng; Hiệp hội Quốc tế về Chất mùn (IHSS) – định nghĩa chất mùn, axit humic; Peacock & Christensen, Khuyến nông Đại học California – bón bo cho nho (NG8-99); Lovatt (2014), Đại học California, Riverside – urê phun lá cho cây có múi; Luật Trồng trọt 31/2018/QH14 (sửa đổi 2025); Nghị định 84/2019/NĐ-CP.

Ảnh minh họa: Milda 444, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).