Giai đoạn nuôi trái, nhiều nhà vườn muốn phun thêm kali qua lá và hỏi cách tự trộn cho đúng. Bài này chia sẻ công thức NPK 10-0-30+TE dạng bột tan: nhiều kali, đạm vừa phải, không lân, kèm canxi, bo, vi lượng chelate và chút chất điều hòa sinh trưởng. Công thức hợp với cây ăn trái, rau ăn quả từ lúc trái đang lớn đến trước thu hoạch, khi cây cần kali để trái chắc, lên màu.

Thành phần cho 1 kg thành phẩm

Nguyên liệuLượng cho 1 kgVai trò
Kali nitrat (KNO3, 13-0-46)450 gNguồn kali chính và đạm nitrat
Kali humate – fulvate (K2O 15%)253,9 gBổ sung kali và chất hữu cơ (humic, fulvic)
Kali sunphat (K2SO4, K2O 52%, S 18%)100 gKali không kèm clo, bổ sung lưu huỳnh
Urê (N 46%, ít biuret)75 gĐạm dễ thấm qua lá
Amino axit 80% (N 13%)50 gĐạm hữu cơ
Canxi chelate (Ca-EDTA, Ca 10%)25 gCanxi dạng chelate, không kết tủa với sunphat
Solubor (B 20,5%)25 gBo cho thụ phấn, vận chuyển đường
Đồng chelate (Cu-EDTA, Cu 15%)5 gVi lượng đồng
Kẽm chelate (Zn-EDTA, Zn 15%)5 gVi lượng kẽm
Mangan chelate (Mn-EDTA, Mn 13%)5 gVi lượng mangan
Natri nitrophenolat hỗn hợp 98%5 gChất điều hòa sinh trưởng liều thấp
Na-NAA (NAA 83%)1 gAuxin liều thấp
Natri molipdat (Mo 39%)0,1 gVi lượng molipden
Tổng1.000 gKhông có chất độn
Hàm lượng thành phẩmN 9,95% (nitrat 5,85%, urê 3,45%, hữu cơ 0,65%); P2O5 0%; K2O 29,7%; S 1,8%; Ca 0,25%; B 0,51%; Zn 750 ppm; Cu 750 ppm; Mn 650 ppm; Mo 39 ppm; NAA 830 ppm; nitrophenolat 0,49%

Bộ phận kỹ thuật đã tính lại từng dòng theo hàm lượng chuẩn của nguyên liệu: đạm 9,95%, kali 29,7%, tổng đúng 100%, khớp tên 10-0-30 nên không phải hiệu chỉnh. Nếu nguyên liệu bà con mua có hàm lượng khác nhãn trên (nhất là kali humate) thì kali thành phẩm sẽ lệch theo.

Nguyên liệu: cách chọn và tác dụng từng loại

  • Kali nitrat (KNO3): gần một nửa công thức, vừa cho kali vừa cho đạm nitrat. Chọn tinh thể trắng, khô, tan trong veo; hàng kém ẩm, tan xong còn cặn.

  • Kali sunphat: thêm kali không kèm clo, có lưu huỳnh. Dùng loại bột tan hoàn toàn như Kali sunphat (SOP); loại hạt bón gốc tan chậm, dễ nghẹt béc.

  • Kali humate – fulvate: vảy hoặc bột đen, tan cho nước nâu đen. Hàng kém nhiều đất cát lắng đáy.

  • Urê ít biuret: biuret là tạp chất gây vàng, cháy chóp lá. Theo GS Carol Lovatt (Đại học California, Riverside), urê dùng phun lá không nên quá 0,25% biuret.

  • Amino axit 80%: bột vàng nhạt, tan nhanh, cho thêm đạm hữu cơ.

  • Canxi, đồng, kẽm, mangan dạng EDTA: kim loại được "bọc" lại nên không kết tủa với kali sunphat. Vì vậy công thức dùng Canxi chelate Ca-EDTA chứ không dùng canxi nitrat.

  • Solubor (bo 20,5%) và natri molipdat: cần rất ít nhưng quan trọng cho đậu trái, vận chuyển đường.

  • Nitrophenolat, Na-NAA: liều rất nhỏ, phải cân bằng cân tiểu ly; chọn natri nitrophenolat hỗn hợp 98% và Na-NAA tan trong nước, nhãn rõ hàm lượng.

Cách trộn

  • Trộn nơi khô, kín gió, dụng cụ khô. Cân đủ từng loại theo bảng.

  • Các chất liều nhỏ (Na-NAA, molipdat, nitrophenolat, ba loại vi lượng chelate) trộn trước với khoảng 50–100 g kali nitrat cho thật đều.

  • Đổ hỗn hợp đó vào phần kali nitrat, kali sunphat, urê, amino, canxi chelate, Solubor còn lại, đảo kỹ; cuối cùng cho kali humate vào trộn đến khi đều màu. Công thức một bồn, không cần tách bồn A – B.

  • Lúc dùng: hòa lượng cần thiết vào xô 5–10 lít nước sạch cho tan rồi mới đổ vào bình.

Lưu ý khi trộn

  • Không thay canxi chelate bằng canxi nitrat: canxi tự do gặp kali sunphat tạo thạch cao lắng cặn, nghẹt béc.

  • Kali humate dễ vón khi gặp nước cứng (giếng nhiều vôi) hoặc axit mạnh. Dùng nước sạch, không tự đổ axit hạ pH. GS Lovatt khuyên dung dịch urê phun lá ở pH 5,5–6,5; có bút đo thì kiểm tra, không có thì đừng chỉnh bừa.

  • Pha chung thuốc bảo vệ thực vật thì thử trước trong chai nhỏ, không vón, không lắng mới pha bình lớn. Theo Khuyến nông Đại học California, thuốc đóng túi tan trong nước phải cho vào bình trước, tan hết rồi mới cho phân bo.

  • Đeo khẩu trang, găng tay khi cân, trộn; để xa tầm tay trẻ em.

Bảo quản

Urê, amino axit và kali humate đều hút ẩm, trộn chung càng dễ vón. Đóng túi kín hai lớp, để nơi khô mát, tránh nắng; trộn vừa đủ dùng một đợt và ghi ngày trộn. Bột đã vón cứng, đổi màu thì không dùng phun lá.

Nồng độ sử dụng khuyến cáo

  • Liều trong công thức gốc: 2,5 g/lít nước, tức 40 g cho bình 16 lít, 500 g cho phuy 200 lít.

  • Tổng lượng phân trong nước chỉ 0,25%, thấp hơn nhiều mức dễ cháy lá; cây non, cây đang ra hoa vẫn nên thử vài cây trước.

  • Phun ướt đều hai mặt lá, không để đọng giọt; GS Lovatt ghi nhận phun quá nhiều nước làm dung dịch dồn về chóp lá, dễ cháy chóp.

  • Phun sáng sớm hoặc chiều mát; với urê phun lá mùa nóng, nhóm của bà khuyên phun khi trời dưới khoảng 27°C. Không phun khi sắp mưa.

Ở nồng độ này cây nhận được bao nhiêu

Nồng độ (ppm) = hàm lượng (%) × số gam mỗi lít × 10. Với 2,5 g/L, trong nước phun có:

ChấtNồng độ trong nước phun (2,5 g/L)
Đạm (N)khoảng 249 ppm
Kali (K2O)khoảng 743 ppm (tương đương 617 ppm K)
Lưu huỳnh (S)45 ppm
Bo (B)khoảng 12,8 ppm
Canxi (Ca)khoảng 6 ppm
Kẽm, đồng (Zn, Cu)khoảng 1,9 ppm mỗi chất
Mangan (Mn)khoảng 1,6 ppm
Molipden (Mo)khoảng 0,1 ppm
NAAkhoảng 2,1 ppm
Nitrophenolatkhoảng 12 ppm

Đó là lượng trong nước phun, không phải lượng cây giữ lại. Theo bài tổng quan của Fernández (Tây Ban Nha) và Brown (Đại học California, Davis) trên tạp chí Frontiers in Plant Science, lượng thấm qua lá phụ thuộc độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, tuổi lá, lớp sáp và tính chất dung dịch; bo ở nhiều loài cây đi lại kém nên phun lá chủ yếu tác dụng tại chỗ. Urê thì thấm nhanh: trên cây có múi, GS Lovatt dẫn số liệu khoảng một nửa lượng urê vào lá trong 30 phút đến 2 giờ.

  • Bo: Khuyến nông Đại học California cho phun lá tối đa 2 pound Solubor/100 gallon nước (khoảng 2,4 g/L, gần 490 ppm bo); công thức này chỉ khoảng 12,8 ppm.

  • Nitrophenolat: nghiên cứu của Przybysz và cộng sự (Ba Lan) dùng chế phẩm chứa 0,6% nitrophenolat ở nồng độ 0,1–0,2%, tức khoảng 6–12 ppm. Công thức cho khoảng 12 ppm, đã ở mức trên, nên không tăng liều quá 2,5 g/L.

  • NAA: khoảng 2 ppm, thấp hơn nhiều mức 10–20 ppm mà Virginia Tech dùng chống rụng trái trước thu hoạch; ở liều này chỉ hỗ trợ nhẹ, đừng trông vào nó để chống rụng.

Tần suất

Bộ phận kỹ thuật khuyên phun cách nhau khoảng 2 tuần trong giai đoạn nuôi trái; GS Lovatt cũng khuyên urê phun lá không lặp lại sớm hơn 2 tuần. Nếu pha chung thuốc thì ngưng trước thu hoạch theo thời gian cách ly của thuốc. Phân bón lá chỉ bổ sung, không thay được phân bón gốc.

Dùng quá liều / tác dụng không mong muốn

  • Cháy lá, cháy chóp lá: khi tự tăng liều nhiều lần, phun lúc nắng gắt, hoặc dùng urê nhiều biuret.

  • Ngộ độc bo: Khuyến nông Đại học California nhấn mạnh phải tính liều bo cẩn thận để tránh bón dư gây độc. Đừng phun cùng lúc với phân bo khác.

  • NAA cao: theo Virginia Tech, từ 20 ppm trở lên có thể làm trái chín sớm, giảm thời gian bảo quản; không tự thêm NAA.

  • Thừa đạm: GS Lovatt lưu ý lá cây có múi đã nhiều đạm (trên 3,3% N) thì phun urê không tăng năng suất, có thể làm trái nhỏ đi, nhất là khi thiếu kali. Cây xanh đậm, ra đọt mạnh thì giãn lần phun.

Lưu ý pháp lý

  • Công thức chia sẻ để bà con tham khảo, tự pha dùng trong vườn nhà, không đóng gói để bán hay trao đổi.

  • Theo Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15), phân bón là hàng hóa kinh doanh có điều kiện, phải có Quyết định công nhận phân bón lưu hành (Điều 36); người sản xuất phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón (Điều 41). Chi tiết tại Nghị định 84/2019/NĐ-CP về quản lý phân bón (đã sửa đổi, đang có hiệu lực).

  • Dùng nguyên liệu có nhãn, rõ nguồn gốc, mang bảo hộ. Hiệu quả phụ thuộc đất, cây, thời tiết; thử trên vài cây trước.

Tóm lại

NPK 10-0-30+TE là công thức phân bón lá giàu kali, không lân, có canxi, bo, vi lượng chelate cho giai đoạn nuôi trái. Pha 2,5 g/L (40 g cho bình 16 lít), phun sáng sớm hoặc chiều mát, cách nhau khoảng 2 tuần, không tự tăng liều, giữ đúng dạng chelate để không kết tủa.

Bà con cần tư vấn thêm về chọn nguyên liệu hay điều chỉnh công thức cho vườn mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Nguồn: Bộ phận kỹ thuật Chelate Asia.

Tài liệu tham khảo: Fernández & Brown (2013), Frontiers in Plant Science – sự hấp thu phân bón qua lá; Lovatt (2014), Đại học California, Riverside – urê phun lá cho cây có múi; Peacock & Christensen, Khuyến nông Đại học California – bón bo cho nho (NG8-99); Przybysz và cs. (2014), Frontiers in Plant Science – chế phẩm nitrophenolat; Virginia Tech Tree Fruit Horticulture (2013) – NAA chống rụng trái; Luật Trồng trọt 31/2018/QH14 (sửa đổi 2025); Nghị định 84/2019/NĐ-CP.

Ảnh minh họa: Suyash Dwivedi, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).