Giai đoạn nuôi trái, nuôi củ, cây cần kali nhiều hơn hẳn đạm, lân. Bài này chia sẻ công thức NPK 10-10-30+TE trộn khô để bón gốc: kali cao gấp ba đạm và lân, có thêm lưu huỳnh và vi lượng sắt, bo, kẽm, mangan. Kali lấy từ kali sunphat nên không có clo. Lượng dưới đây tính cho 1.000 kg (1 tấn) thành phẩm; trộn ít hơn thì chia theo tỷ lệ.
Thành phần cho 1.000 kg (1 tấn) thành phẩm
| Nguyên liệu | Lượng cho 1 tấn | Vai trò |
|---|---|---|
| Kali sunphat (K2SO4, K2O 50%, S 16%) | 600 kg | Nguồn kali chính, thêm lưu huỳnh, không có clo |
| DAP 16-45 (diamoni phốt phát) | 225 kg | Nguồn lân và đạm amoni |
| Urê (N 46%) | 135 kg | Nguồn đạm chính |
| Sắt chelate (Fe-EDTA, Fe 13%) | 10 kg | Vi lượng sắt cho lá xanh |
| Bo tan DOT (dinatri octaborat, B 20,5%) | 10 kg | Bo cho ra hoa, đậu trái, vận chuyển đường |
| Canxi chelate (Ca-EDTA, Ca 10%) | 10 kg | Bổ sung chút canxi |
| Mangan chelate (Mn-EDTA, Mn 13%) | 5 kg | Vi lượng mangan |
| Kẽm chelate (Zn-EDTA, Zn 15%) | 5 kg | Vi lượng kẽm |
| Tổng | 1.000 kg | Không có chất độn |
| Hàm lượng thành phẩm | N 9,81%; P2O5 10,13%; K2O 30%; S 9,6%; Ca 0,1%; Fe 0,13%; B 0,205%; Mn 650 ppm; Zn 750 ppm |
Bộ phận kỹ thuật đã tính lại từng dòng theo hàm lượng chuẩn của nguyên liệu: tổng đúng 100%, đạm 9,81%, lân 10,13%, kali 30% — khớp tên 10-10-30, không cần hiệu chỉnh. Nếu bà con dùng DAP loại thường 18-46 thì đạm lên khoảng 10,3%, lân khoảng 10,4%; dùng kali sunphat loại 52% K2O thì kali lên khoảng 31%. Vẫn đúng công thức, chỉ dư chút ít. Canxi chỉ có 0,1%, tức đây không phải phân canxi; cây thiếu canxi phải bổ sung riêng.
Nguyên liệu: cách chọn và tác dụng từng loại
Kali sunphat: hơn một nửa công thức. Hàng tốt trắng đến trắng ngà, khô rời. Theo Khuyến nông Đại học Mississippi (Hoa Kỳ), tính trên mỗi đơn vị kali, chỉ số muối của kali sunphat (14) chưa bằng một nửa kali clorua (32), và nên chọn kali sunphat cho cây mẫn cảm với clo như thuốc lá. Dùng loại rõ hàm lượng như Kali sunphat K2SO4.
DAP, urê: hạt cứng, đều, khô, ít bụi; hạt bóp vỡ vụn, ẩm dính hay vón cục là hàng đã hút ẩm.
Sắt, kẽm, mangan, canxi dạng EDTA: dạng bột tan hoàn toàn, màu đặc trưng (sắt EDTA vàng nâu). Chọn hàng ghi rõ hàm lượng như Sắt chelate Fe-EDTA-13.
Bo tan DOT: bột trắng mịn, chỉ 10 kg mỗi tấn nhưng phải cẩn thận nhất. Dùng loại rõ hàm lượng như bo tan DOT.
Cách trộn
Chọn nguyên liệu cùng cỡ hạt. Khuyến nông Đại học Mississippi lưu ý: nguyên liệu khác cỡ hạt sẽ tách lớp khi bốc vác, rải, và cỡ hạt tương đồng là yếu tố quan trọng nhất của phân trộn đạt chất lượng. Urê hạt, DAP hạt, kali sunphat hạt cỡ gần nhau là tốt nhất.
Trộn mồi phần bột trước: 40 kg bột vi lượng (sắt, bo, canxi, mangan, kẽm) trộn trước với khoảng 100 kg kali sunphat cho thật đều, rồi mới đổ vào phần còn lại. Bột mịn dễ lọt xuống đáy đống phân hạt nên phải trộn kỹ.
Đổ phần kali sunphat còn lại, DAP, rồi urê; đảo đến khi đều màu. Trộn trên bạt khô, có mái che, không trộn lúc trời nồm. Trộn mẻ nhỏ vừa bón trong vài ngày; bốc ra bón thì đảo lại một lượt.
Lưu ý khi trộn
Hỗn hợp có urê hút ẩm nhanh hơn từng chất riêng. Tài liệu của Trung tâm Phát triển Phân bón Quốc gia TVA (Hoa Kỳ), lưu tại thư viện IFDC: ở 30 °C urê riêng hút ẩm khi độ ẩm không khí khoảng 75%, trộn với kali sunphat còn khoảng 71,5%, trộn với DAP chỉ còn khoảng 62%.
Không thay DAP bằng super lân: cùng tài liệu trên cho biết urê chỉ tương hợp hạn chế với super lân, hỗn hợp nhả nước, nhão và không dùng được.
Không trộn chung vôi, tro bếp: urê và DAP gặp chất kiềm sẽ bay amoniac, mất đạm.
Đeo khẩu trang, găng tay, kính khi cân, trộn; để xa tầm tay trẻ em, xa thức ăn chăn nuôi.
Bảo quản
Đóng bao hai lớp (bao dệt lót nilon), buộc chặt, kê cao khỏi nền, để nơi khô mát. Ghi ngày trộn, dùng trong mùa vụ. Vón nhẹ thì đập tơi rồi bón; chảy nước là đã hút ẩm nặng.
Nồng độ sử dụng khuyến cáo
Công thức này dùng hai cách: rải khô quanh gốc, hoặc hòa nước tưới gốc theo liều trong công thức gốc.
Rải khô quanh gốc
Lượng bón tính theo nhu cầu cây và phân tích đất, nhưng trần liều do bo quyết định: theo Khuyến nông Đại học Nebraska (Hoa Kỳ), mỗi lần bón bo vào đất không nên vượt 1 pound/mẫu Anh, tức khoảng 1,1 kg bo/ha, rải đều tốt hơn bón tập trung.
Công thức chứa 0,205% bo nên mỗi lần bón tối đa khoảng 500 kg/ha, tức 50 kg cho 1.000 m², chừng 50 g cho mỗi mét vuông vùng rễ. Lượng đó cho khoảng 49 kg đạm, 51 kg lân (P2O5), 150 kg kali (K2O) và 1 kg bo mỗi ha.
Cây cần nhiều kali hơn thì thêm kali sunphat riêng, đừng tăng liều công thức này. Vườn có dùng phân khác chứa bo thì cộng dồn.
Rải theo hình chiếu tán, không rải sát thân, không bón vào rãnh gieo hạt; bón xong lấp đất nhẹ hoặc tưới đẫm.
Hòa nước tưới gốc
Liều trong công thức gốc: 5 g phân cho 1 lít nước, tức 80 g cho bình 16 lít, 1 kg cho phuy 200 lít. Khuấy kỹ cho tan rồi tưới.
Dung dịch 5 g/L đã khá đậm (0,5%), nên chỉ tưới lên đất đã ẩm quanh gốc, không phun lên lá, không dùng để châm liên tục qua hệ thống nhỏ giọt. Cây con, rau mới trồng thì pha loãng hơn và thử trên vài cây trước.
Giữ đúng trần liều theo diện tích: mỗi mét vuông vùng rễ tối đa 10 lít dung dịch 5 g/L mỗi lần (bằng 50 g phân/m²).
Ở nồng độ này cây nhận được bao nhiêu
Nồng độ trong nước tưới (ppm) = hàm lượng (%) × số gam mỗi lít × 10. Với 5 g/L:
| Chất | Trong nước tưới gốc (5 g/L) | Khi bón 500 kg/ha |
|---|---|---|
| Đạm (N) | khoảng 490 ppm | khoảng 49 kg/ha |
| Lân | khoảng 506 ppm P2O5 (221 ppm P) | khoảng 51 kg P2O5/ha |
| Kali | 1.500 ppm K2O (khoảng 1.245 ppm K) | 150 kg K2O/ha |
| Lưu huỳnh (S) | 480 ppm | 48 kg/ha |
| Canxi (Ca) | 5 ppm | 0,5 kg/ha |
| Sắt (Fe) | 6,5 ppm | khoảng 0,65 kg/ha |
| Bo (B) | khoảng 10 ppm | khoảng 1 kg/ha |
| Mangan (Mn) | khoảng 3,3 ppm | khoảng 0,33 kg/ha |
| Kẽm (Zn) | khoảng 3,8 ppm | khoảng 0,38 kg/ha |
Đó là lượng đưa vào đất, không phải lượng cây hút hết; rễ lấy nhiều ít tùy đất, độ ẩm, tuổi cây. Một phần đạm có thể mất vào không khí: theo Khuyến nông Đại học bang Montana (Hoa Kỳ), urê rải trên mặt đất có thể mất tới 22% đạm trong một tuần; cần một trận mưa từ khoảng 13 mm (0,5 inch) trở lên mới đưa urê xuống đất, còn mưa lắt nhắt có khi lại làm mất nhiều hơn. Vì vậy bón xong nên lấp đất hoặc tưới đẫm.
Riêng sắt: theo Khuyến nông Đại học bang North Dakota (Hoa Kỳ), sắt EDTA chỉ giữ được dạng tan khi đất có pH từ 6,3 trở xuống; sắt DTPA tới pH 7,5; sắt EDDHA tới pH 9. Đất kiềm, đất nhiều vôi thì phần sắt trong công thức này kém tác dụng; cây vàng lá thiếu sắt trên đất kiềm nên bổ sung riêng sắt EDDHA.
Tần suất
Không bón dồn một lần. Chia lượng cả vụ thành vài lần theo giai đoạn nuôi trái, nuôi củ, mỗi lần cách nhau vài tuần và không vượt 500 kg/ha. Bón lúc đất ẩm, tránh ngay trước mưa to. Vụ sau căn cứ phân tích đất, lá để điều chỉnh, nhất là bo.
Dùng quá liều / tác dụng không mong muốn
Ngộ độc bo: lá vàng, cháy chóp và mép lá. Khuyến nông Đại học Nebraska cảnh báo bón bo quá liều gây ngộ độc, và liều hợp với cây này có thể đã độc với cây khác; bo cũng độc với hạt giống nên không bón vào rãnh gieo. Đừng dùng chung với phân bo khác.
Xót rễ, cháy hạt: Khuyến nông Đại học Mississippi lưu ý phân bón tập trung sát hạt hoặc rễ dễ làm hại cây; urê và DAP tạo amoniac tự do nên không đặt sát hạt giống. Rải cách gốc, rải đều.
Mặn đất: bón dày mà không tưới, nhất là đất cát, chậu trồng, làm muối tích quanh rễ, cây héo, mép lá khô.
Cây vống nếu tự thêm urê: đi ngược mục đích nuôi trái của công thức.
Lưu ý pháp lý
Công thức chia sẻ để bà con tham khảo, tự phối trộn dùng trong vườn nhà, không đóng gói để bán hay trao đổi.
Theo Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15), phân bón là hàng hóa kinh doanh có điều kiện, phải có Quyết định công nhận phân bón lưu hành (Điều 36); người sản xuất phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón (Điều 41). Chi tiết tại Nghị định 84/2019/NĐ-CP về quản lý phân bón (đã sửa đổi, đang có hiệu lực); bà con tra cứu hiệu lực trên vanban.chinhphu.vn hoặc thuvienphapluat.vn.
Dùng nguyên liệu có nhãn, rõ nguồn gốc, mang bảo hộ. Hiệu quả phụ thuộc đất, cây, thời tiết; thử trên vài cây trước khi bón cả vườn.
Tóm lại
NPK 10-10-30+TE là công thức bón gốc giàu kali, không clo, có lưu huỳnh và vi lượng, dùng cho giai đoạn nuôi trái, nuôi củ. Chọn nguyên liệu cùng cỡ hạt, trộn mồi phần bột trước, bao kín. Mỗi lần bón không quá 50 kg/1.000 m² vì giới hạn bo; hòa nước thì 5 g/L, chỉ tưới lên đất ẩm. Bón xong lấp đất hoặc tưới đẫm.
Bà con cần tư vấn thêm về chọn nguyên liệu hay điều chỉnh công thức cho vườn mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Nguồn: Bộ phận kỹ thuật Chelate Asia.
Tài liệu tham khảo: Bryant, Oldham & Jones (2024), Khuyến nông Đại học Mississippi – Inorganic fertilizers for crop production (P2500); Maharjan và cộng sự (2018), Khuyến nông Đại học Nebraska – Micronutrient management in Nebraska (G1830); Balay & Slappey (1983), TVA National Fertilizer Development Center – Handling and distributing urea (thư viện IFDC); Engel, Khuyến nông Đại học bang Montana – Urea volatilization: what have we learned?; Zeleznik & McGinnis (2023), Khuyến nông Đại học bang North Dakota – Iron chlorosis in trees (F1868); Luật Trồng trọt 31/2018/QH14 (sửa đổi 2025); Nghị định 84/2019/NĐ-CP.
Ảnh minh họa: Wee Hong, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).