Xoài cho trái mà bón theo cảm tính thì dễ dư đạm: ra đọt ào ạt, hoa ít, trái chín vỏ còn xanh. Bài này tổng hợp khuyến cáo của Đại học Nông nghiệp Kerala (KAU) và Tamil Nadu (TNAU) ở Ấn Độ, Đại học Florida (UF/IFAS, Mỹ) và các thí nghiệm ở bang Queensland (Úc), quy ra urê, lân, kali. Đây là khung tham khảo; bà con chỉnh theo đất và sản lượng vườn mình.

Lượng phân theo tuổi cây (bảng KAU)

KAU ghi lượng chất nguyên chất N:P2O5:K2O (g/cây/năm) kèm phân chuồng. Quy ra urê 46% N, super lân 16% P2O5, kali clorua 60% K2O.

  • Năm 1: 10 kg phân chuồng; 20:18:50 g ≈ 43 g urê, 113 g lân, 83 g kali.

  • Năm 2: 15 kg; 50:27:75 g ≈ 109 g urê, 169 g lân, 125 g kali.

  • 3–5 năm: 25 kg; 100:36:100 g ≈ 217 g urê, 225 g lân, 167 g kali.

  • 6–7 năm: 40 kg; 250:172:200 g ≈ 543 g urê, 1.075 g lân, 333 g kali.

  • 8–10 năm: 50 kg; 400:144:400 g ≈ 870 g urê, 900 g lân, 667 g kali.

  • Trên 10 năm: 75 kg; 500:360:750 g ≈ 1.087 g urê, 2.250 g super lân, 1.250 g kali clorua/cây/năm.

KAU cho bón thêm 25 kg lá xanh và 10–15 kg tro bếp mỗi cây. Bảng gốc ghi lân mốc 6–7 năm (172 g) cao hơn mốc 8–10 năm (144 g); chúng tôi giữ nguyên số, bà con nên đối chiếu phân tích đất. Dùng kali sunphat 52% K2O thay kali clorua thì cây trên 10 năm cần khoảng 750 ÷ 0,52 ≈ 1.442 g.

Hai nguồn khác để đối chiếu

  • TNAU: năm đầu 10 kg phân chuồng, 0,2 kg N, 0,2 kg P, 0,3 kg K mỗi cây, mỗi năm cộng thêm đúng chừng ấy; từ năm thứ 6: 50 kg phân chuồng, 1,0 kg N, 1,0 kg P, 1,5 kg K. (1 kg N ≈ 2,17 kg urê.) Bảng TNAU chỉ ghi “N, P, K”, không nói rõ là P2O5, K2O.

  • UF/IFAS (vườn nhà ở Florida) dùng phân trộn 6-6-6-2 (N-P2O5-K2O-Mg). Từ năm thứ 6 bón 4 lần, mỗi lần 3,5–4 pound (1,6–1,8 kg), cả năm 14–16 pound (6,4–7,3 kg), tức chừng 380–435 g N. Cây đã cho trái thì UF/IFAS khuyên giảm mạnh, có khi bỏ hẳn đạm, tăng kali lên 9–15%, lân còn 2–4%, ví dụ loại 6-3-16 hoặc 0-0-22.

Các nguồn chênh nhau tới gấp đôi lượng đạm vì đất, giống, năng suất khác nhau. Lấy bảng KAU làm khung rồi chỉnh theo phân tích đất, lá.

Chia đợt theo chu kỳ trái

Bón rải gốc

Theo KAU, cây chưa cho trái bón phân hóa học một lần đầu mùa mưa; cây đã cho trái chia hai lần bằng nhau: đầu mùa mưa (tháng 5–6 ở Kerala) và tháng 8–9. Phân hữu cơ bón đầu mùa mưa. Cây trên 10 năm mỗi lần khoảng 543 g urê, 1.125 g super lân, 625 g kali clorua. TNAU thì bón một lần vào tháng 9–10.

Tưới nhỏ giọt, trồng dày (TNAU)

Vườn trồng 5 × 5 m (400 cây/ha) tưới nhỏ giọt, TNAU dùng 1,0:0,5:1,0 kg N-P-K mỗi cây có trái mỗi năm, chia theo chu kỳ:

  • Sau thu hoạch (2 tháng): 25% N, 50% P, 25% K, tức 250 g N, 250 g P, 250 g K.

  • Trước ra hoa (2 tháng): 40% N, 30% P, 20% K, tức 400 g, 150 g, 200 g.

  • Ra hoa đến đậu trái (2 tháng): 20% N, 20% P, 25% K, tức 200 g, 100 g, 250 g.

  • Nuôi trái (4 tháng): 15% N, không lân, 30% K, tức 150 g N, 300 g K.

Mỗi giai đoạn chia từ 6 lần trở lên, mỗi tuần một lần. Trước mùa hoa, ngưng tưới và bón 30 ngày cho cây khô hạn, hoa nhú thì tưới lại.

Thí nghiệm ở Queensland (Úc)

  • Ở Bắc Queensland, xoài 8 tuổi bón 156 g N/cây (340 g urê): bón hết 2 tuần sau thu hoạch hay chia một phần trước thu hoạch thì năng suất, cỡ trái như nhau.

  • Ở vùng Burdekin, bón từ 150 g N/cây trở lên vào lúc trước ra hoa và lúc nhú chùm hoa làm trái Kensington Pride chín mà vỏ còn nhiều mảng xanh; mức 300 g N làm thán thư trên trái chín nặng hơn ở vườn vốn hay bị.

Lịch TNAU lại dồn 40% đạm vào trước ra hoa; khác giống, khác vùng. Vườn hay bị trái chín vỏ xanh, thán thư thì nên dè dặt đạm lúc ra hoa, nuôi trái.

Vôi và vi lượng

  • Vôi: các tài liệu trên không đưa liều vôi cho xoài. UF/IFAS chỉ nêu: đất cát chua, ít canxi thì bón thêm canxi có thể giảm chứng thối nhũn thịt trái, còn dư đạm làm chứng này nặng hơn. Muốn bón vôi thì đo pH trước.

  • Vi lượng: UF/IFAS khuyên phun lá có kẽm, mangan, bo, molipđen 2–4 lần mỗi năm; bo chỉ bằng 1/300 lượng đạm vì dễ ngộ độc. Đất kiềm thì tưới gốc sắt chelate Fe-EDDHA 2–3 lần mỗi năm.

Lưu ý khi pha trộn và bón

  • Đổi đơn vị: lượng chất nguyên chất chia cho % trên bao ra lượng phân.

  • Vị trí: KAU đào rãnh sâu 30 cm, cách gốc 2,5–3 m cho cây lớn; TNAU rải cách gốc 45–90 cm ra tới mép tán rồi vùi đất.

  • Bón khi đất đủ ẩm, như KAU bón theo mưa đầu mùa.

  • Thử trên vài cây trước: đổi công thức thì thử vài hàng một vụ, xem đọt, hoa, trái rồi mới làm cả vườn.

Tóm lại

Khung KAU cho cây trên 10 năm là 75 kg phân chuồng và 500:360:750 g N:P2O5:K2O mỗi năm, chia hai lần trong mùa mưa. Cây có trái thì nghiêng về kali; vườn hay bị trái chín vỏ xanh, thán thư thì bớt đạm lúc ra hoa, nuôi trái. Bà con cần tư vấn thêm về phân bón cho vườn xoài, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Kerala Agricultural University – KAU Agri-Infotech Portal, Mango: Manuring; TNAU Agritech Portal – Horticulture: Mango, Fertilizer Schedule; UF/IFAS Extension – Mango Growing in the Florida Home Landscape (HS2); Nguyen và cộng sự (2004), Effect of nitrogen on the skin colour of ripe Kensington Pride mango fruit, J. Hort. Sci. Biotech. 79(2); Ibell và cộng sự (2017), When is the best time to apply postharvest nitrogen fertiliser?, Acta Horticulturae 1183.

Ảnh minh họa: Zainab37, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).