Nhiều nhà vườn trồng sắn (khoai mì) theo kiểu “cắm hom xuống đất rồi chờ”. Cây sắn dễ tính thật, nhưng củ to hay nhỏ vẫn tùy cây được ăn gì, ăn bao nhiêu và ăn lúc nào. Bài này gom lại các con số trong tài liệu của CIAT (Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế), thí nghiệm của IITA (Viện Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế) đăng năm 2025 và số liệu thực địa ở Lào, để bà con có vài công thức bón gốc tham khảo, kèm cách đổi ra diện tích 1.000 m².

Củ sắn “lấy đi” của đất bao nhiêu?

Theo ông Howeler (CIAT), khi thu hoạch 15 tấn củ tươi mỗi hecta, riêng phần củ đã mang đi khoảng 30 kg đạm (N), 3,5 kg lân (P) và 20 kg kali (K). Tính ra mỗi tấn củ lấy đi chừng 2 kg N, 0,2 kg P và 1,3 kg K. Nghĩa là sắn ăn đạm và kali nhiều, ăn lân ít. Nếu lại chặt bỏ luôn thân lá mang đi thì đất bị rút thêm, lượng bù phải gấp đôi trở lên.

Ba công thức bón gốc tham khảo

Công thức 1: mức bù đất tối thiểu (năng suất mục tiêu 15 tấn/ha)

CIAT nêu mức cơ bản để đất khỏi cạn dinh dưỡng, với điều kiện trả lại toàn bộ thân lá cho ruộng: khoảng 60 kg N + 10–20 kg P₂O₅ + 50 kg K₂O mỗi hecta. Đổi ra 1.000 m² (một phần mười hecta) là 6 kg N, 1–2 kg P₂O₅ và 5 kg K₂O.

Công thức 2: đất rất nghèo lân, muốn năng suất cao

Ở vùng cao Lào, đất chua (pH 4,9) và gần như hết lân, CIAT thử nhiều mức phân trong nhiều vụ, mọi ô đều được rải 500 kg vôi dolomit mỗi hecta. Cây đáp ứng rất mạnh với lân và kali, gần như không đáp ứng với đạm. Mức 25 kg N + 100 kg P₂O₅ + 100 kg K₂O mỗi hecta cho năng suất xấp xỉ mức bón cao nhất của thí nghiệm (100 kg N + 200 kg P₂O₅ + 200 kg K₂O), nên tiết kiệm phân hơn nhiều. Trên 1.000 m² là 2,5 kg N, 10 kg P₂O₅ và 10 kg K₂O. Đây là ruộng thiếu lân nặng, đất nhà mình chưa chắc cần nhiều thế.

Công thức 3: chia bốn lần theo thí nghiệm của IITA

Nhóm nghiên cứu IITA thử ở Mozambique, trên đất cát pha sét, hom 30 cm trồng cách nhau 1 m × 1 m (khoảng 10.000 cây/ha). Tổng lượng là 155 kg N – 23 kg P₂O₅ – 155 kg K₂O mỗi hecta, chia đều cho các lần. Với 1.000 m² thì tổng là 15,5 kg N, 2,3 kg P₂O₅ và 15,5 kg K₂O.

  • Chia bốn lần: lúc trồng, rồi 2, 4 và 6 tháng sau trồng.

  • Mỗi lần trên 1.000 m²: khoảng 3,9 kg N, 0,6 kg P₂O₅ và 3,9 kg K₂O; tính theo cây là khoảng 3,9 g N, 0,6 g P₂O₅ và 3,9 g K₂O.

  • Kết quả: ruộng không bón phân cho năng suất thấp hơn ruộng chia bốn lần tới 22%.

Bón đạm, lân, kali lúc nào cho hợp?

  • Đạm: với mức dưới 100 kg N/ha, bón một lần lúc trồng hay trong vòng 1–3 tháng đầu khác nhau không đáng kể. Mức cao hơn thì nên chia. Ở đất cát, chia ba lần (khoảng 30, 60 và 90 ngày sau trồng) cho kết quả tốt nhất tới mức 150 kg N/ha. Bón thừa đạm, cây chỉ xanh lá mà ít củ và giảm tinh bột.

  • Lân: bón hết lúc trồng hoặc ngay sau trồng, rải gần hom (bón rạch) nếu là phân tan được.

  • Kali: bón một lần khoảng 1 tháng sau trồng thường cho năng suất cao nhất. Các nguồn kali clorua, kali sunphat không khác nhau đáng kể; đất thiếu lưu huỳnh thì nên chọn loại có lưu huỳnh.

  • Kẽm: sắn hay thiếu kẽm, nhất là đất kiềm hoặc đất vừa bón vôi. CIAT ghi nhận bón khoảng 10 kg Zn/ha (dạng kẽm sunfat ngậm 7 nước) cùng phân NPK lúc trồng cho năng suất tối đa. Nếu dùng kẽm sunfat monohydrate, nhớ tính theo hàm lượng Zn ghi trên bao, vì loại này đậm đặc hơn loại 7 nước.

Lưu ý khi pha và khi bón

  • Phân bón gốc ở đây là phân khô. Nếu muốn hòa nước tưới gốc, hòa riêng từng loại, tan hết rồi mới tưới, và chỉ tưới khi đất đủ ẩm.

  • Các con số trên là kết quả thí nghiệm ở Lào và Mozambique. Đất mình có thể khác, nên thử trước trên vài hàng, đối chiếu với ô không bón và theo dõi màu lá, độ phát triển củ.

  • Khi tính lượng phân thương phẩm, luôn tính theo hàm lượng N, P₂O₅, K₂O ghi trên bao, đừng lấy cân nặng bao phân chia thẳng cho số kg dinh dưỡng.

Tóm lại

Sắn ăn nhiều đạm và kali, ít lân, kẽm không được thiếu. Mức bù tối thiểu khoảng 60 N – 10 đến 20 P₂O₅ – 50 K₂O kg/ha nếu trả lại thân lá; đất nghèo lân cần tăng lân và kali, đạm không cần nhiều. Chia phân thành nhiều lần, nhất là ở đất cát, thường cho củ tốt hơn bón dồn một lần lúc trồng.

Bà con cần tư vấn thêm về vi lượng và kẽm cho sắn, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: CIAT – R. H. Howeler (2002), “Cassava Mineral Nutrition and Fertilization”, CAB International; IITA – J. O. Omondi và cs. (2025), “Tracking the storage root bulking of cassava under split application of fertilizer nutrients”, Frontiers in Agronomy; CIAT – T. M. Aye, R. Howeler, “Improving the Sustainability of Cassava-based Cropping Systems for Smallholder Farmers in the Uplands of Lao PDR”.

Ảnh minh họa: Denis kasozi, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).