Mía đứng ruộng gần cả năm, cho hàng chục tấn cây mỗi hecta nên "ăn" rất nhiều đạm và kali. Bón bao nhiêu, chia mấy đợt, mía gốc có cần hơn mía tơ không thì mỗi nơi khuyến cáo một kiểu. Bài này gom ba bộ khuyến cáo của đại học nước ngoài, ghi rõ nguồn nào nói gì, rồi quy ra số ký urê, lân, kali cho 1 ha và 1.000 m².
Mía tơ và mía gốc khác nhau ở đâu?
Mía tơ là vụ đầu trồng bằng hom; mía gốc mọc lại sau khi đốn. Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU, Ấn Độ) ghi rõ mía gốc cần nhiều đạm hơn và thường chín sớm hơn khoảng một tháng. LSU AgCenter (Mỹ) cũng cho mía gốc mức đạm cao hơn. Riêng Đại học Florida (UF/IFAS) trên đất cát lại để mía gốc thấp hơn chút. Không có con số chung cho mọi nơi.
Công thức 1: theo TNAU (Ấn Độ, vùng nhiệt đới có tưới)
Khi chưa phân tích đất, TNAU đưa ra mức chung cho mía làm đường:
Mía tơ: 300 kg N – 100 kg P₂O₅ – 200 kg K₂O cho 1 ha.
Mía gốc: như mía tơ nhưng cộng thêm 25% đạm (thêm 75 kg N), phần thêm này bón 5–7 ngày sau khi đốn gốc.
Lân bón lót hết dưới đáy rãnh trước khi đặt hom. Đạm và kali chia 3 phần bằng nhau, bón ngày 30, 60 và 90 sau trồng, thành băng hai bên hàng mía.
Lót thêm 12,5 tấn phân chuồng/ha trước lần cày cuối.
Quy đổi ra phân đơn
Urê (46% N): 300 ÷ 0,46 ≈ 652 kg/ha, mỗi đợt 217 kg; 1.000 m² khoảng 65 kg, mỗi đợt gần 22 kg.
Super lân (16% P₂O₅): 100 ÷ 0,16 = 625 kg/ha (62,5 kg/1.000 m²), khớp con số TNAU ghi.
Hoặc DAP (18-46): 100 ÷ 0,46 ≈ 217 kg/ha; DAP mang theo khoảng 39 kg N nên bớt chừng 85 kg urê.
Kali clorua (KCl, 60% K₂O): 200 ÷ 0,6 ≈ 333 kg/ha, mỗi đợt 111 kg; 1.000 m² là 33 kg, mỗi đợt hơn 11 kg.
Mía gốc: 75 kg N thêm ≈ 163 kg urê/ha (16 kg/1.000 m²); cả vụ khoảng 815 kg urê/ha.
Với mía gốc, TNAU ghi lịch thúc sớm hơn: lần 1 khoảng ngày 25, lần 2 ngày 45–50, lần cuối ngày 70–75 sau khi đốn. Đất thiếu kẽm, TNAU khuyên lót 37,5 kg kẽm sunphat/ha; dùng kẽm sunphat monohydrat thì tính theo hàm lượng kẽm ghi trên bao.
Công thức 2: theo LSU AgCenter (Louisiana, Mỹ)
Khuyến cáo năm 2026 của LSU AgCenter, quy từ pound/mẫu Anh ra kg/ha (nhân 1,12):
Mía tơ: đất nhẹ 67–90 kg N/ha (urê 146–195 kg); đất nặng 90–112 kg N/ha (urê 195–244 kg).
Mía gốc: đất nhẹ 90–112 kg N/ha; đất nặng 112–135 kg N/ha (urê 244–292 kg/ha, tức 24–29 kg cho 1.000 m²).
Kali theo phân tích đất: đất rất nghèo kali bón 135 kg K₂O/ha cho mía tơ (KCl ≈ 224 kg), 157 kg cho mía gốc (KCl ≈ 262 kg); đất giàu kali thì thôi.
Lân chỉ bón khi đất nghèo lân: khoảng 50 kg P₂O₅/ha (super lân ≈ 315 kg).
Đạm bón một lần đầu mùa sinh trưởng (ở Louisiana là 20/3–30/4).
Mức này thấp hơn TNAU nhiều vì Louisiana có mùa đông lạnh, mía sinh trưởng ít tháng hơn. LSU cảnh báo bón quá mức có thể thêm tấn mía nhưng giảm đường trên mỗi tấn.
Công thức 3: theo UF/IFAS (Florida, Mỹ – đất cát)
Mía tơ: 220 pound N/mẫu Anh ≈ 247 kg N/ha (urê ≈ 536 kg/ha, 54 kg/1.000 m²), chia 5 lần, mỗi lần khoảng 107 kg urê/ha.
Mía gốc: ≈ 224 kg N/ha (urê ≈ 487 kg/ha), chia 4 lần, mỗi lần khoảng 122 kg urê/ha.
Mỗi lần không quá khoảng 70 kg N/ha (≈ 152 kg urê), vì đất cát mưa nhiều dễ trôi đạm. Lân, kali theo phân tích đất.
Cách tự quy đổi
Urê = kg N ÷ 0,46; super lân = kg P₂O₅ ÷ 0,16; KCl = kg K₂O ÷ 0,6.
Kali sunphat (52% K₂O, 18% S) = kg K₂O ÷ 0,52; hợp đất nghèo lưu huỳnh, vì LSU khuyến cáo bón thêm S khi phân tích thấy đất thiếu.
1.000 m² = 1/10 ha: lấy lượng 1 ha chia 10.
Lưu ý khi bón
Phân tích đất trước: cả ba nguồn đều dựa vào phân tích đất. LSU coi pH là việc đầu tiên: bón vôi khi pH dưới 5,5 (đất cát pha, thịt pha) hoặc dưới 5,2 (đất sét); đạm hiệu quả nhất ở pH 6,0–6,5.
Chọn nguồn gần ruộng mình: các bộ số làm cho đất, khí hậu nơi khác; đừng lấy con số cao nhất áp cho cả ruộng.
Làm thử trước: đổi công thức thì thử một thửa nhỏ, so năng suất, chữ đường rồi mới làm đại trà.
Không bón khi đất khô nứt: bón lúc đất đủ ẩm, có tưới thì tưới sau bón; tránh rải urê ngay trước mưa to.
Lấp phân ngay: TNAU khuyên rạch rãnh sâu khoảng 15 cm cạnh hàng, bón rồi lấp đất cho đỡ mất đạm; vun nhẹ sau đợt thúc 1, vun cao sau đợt 2.
Đừng bón đạm muộn, quá tay: thừa đạm làm mía chậm chín, nước mía kém, dễ đổ ngã, sâu bệnh (TNAU); mía tích đường tốt hơn khi đạm hạn chế 6–8 tuần trước thu hoạch (UF/IFAS).
Tóm lại
Mía tơ cần lân lót đủ, đạm và kali chia nhiều đợt trong ba tháng đầu; mía gốc thường cần đạm nhiều hơn và bón sớm sau khi đốn. Mức đạm dao động từ gần 70 kg N/ha (Louisiana, đất nhẹ) đến 375 kg N/ha (mía gốc ở Tamil Nadu). Hãy phân tích đất, chọn bộ số gần ruộng mình, quy đổi đúng và làm thử trước.
Bà con cần tư vấn thêm về phân bón cho mía, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU) – Nutrient Management: Sugarcane (TNAU Agritech Portal); TNAU – Expert System for Sugarcane: Nutrient Management, Ratoon Cane Management; LSU AgCenter – Sugarcane Soil Fertility Recommendations for 2026; UF/IFAS – Nutritional Requirements and Fertilizer Recommendations for Florida Sugarcane (SS-AGR-228); UF/IFAS – Nitrogen Fertilizer Recommendations for Sugarcane Production for Sugar on Florida Sand Soils (SS-AGR-401).
Ảnh minh họa: Willem van Aken, CSIRO, Wikimedia Commons (CC BY 3.0).