Dứa (thơm, khóm) ăn phân theo kiểu “ít mà đều”: cây sống lâu trên đất nghèo, bộ rễ nông, nên bón dồn một lần dễ trôi hoặc xót rễ. Bài này gom công thức bón gốc từ khuyến nông các trường đại học ở Ấn Độ và Mỹ, đổi sang đơn vị gam mỗi cây để bà con dễ cân, dễ làm.

Hai công thức nền của đại học nông nghiệp Ấn Độ

Trạm nghiên cứu dứa Vazhakkulam thuộc Đại học Nông nghiệp Kerala khuyến cáo 8 g N : 4 g P2O5 : 8 g K2O cho mỗi cây trong một năm. Cách chia như sau:

  • Lân (P2O5): bón hết một lần lúc trồng.

  • Đạm và kali: chia 6 lần, cách nhau 2 tháng, lần đầu sau trồng 2 tháng, bỏ qua những đợt mưa lớn.

  • Phân hữu cơ lót: 20–30 tấn/ha (phân bò, phân chuồng hoặc phân ủ) bón lúc trồng.

  • Nguồn đạm nên chọn sunfat đạm (amoni sunfat), vì dứa hút đạm ở dạng amoni.

Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU) đưa ra mức cao hơn: 16 g N : 4 g P2O5 : 12 g K2O mỗi cây, chia hai lần bằng nhau vào tháng thứ 6 và tháng thứ 12 sau trồng, kèm 40–50 tấn/ha phân chuồng. Mỗi lần tính ra là 8 g N, 2 g P2O5 và 6 g K2O cho một cây (phép chia này là của người viết).

Hai nơi cho hai con số khác nhau là chuyện bình thường, vì đất, giống, mật độ trồng và lượng mưa mỗi vùng mỗi khác. Bà con có thể coi mức của Kerala là mức nền, còn mức TNAU là mức cho đất nghèo hoặc cây sinh trưởng mạnh, rồi điều chỉnh theo màu lá và kết quả phân tích đất.

Đổi ra phân thành phẩm cho dễ cân

Các nguồn trên ghi theo chất nguyên chất (N, P2O5, K2O). Bà con phải chia cho hàm lượng ghi trên bao. Dưới đây là cách tính của người viết, dùng amoni sunfat 21% N và kali sunfat (SOP) 52% K2O, theo công thức Kerala:

  • Mỗi lần bón, mỗi cây: 1,33 g N ≈ 6,3 g amoni sunfat; 1,33 g K2O ≈ 2,6 g kali sunfat.

  • Cả năm, mỗi cây: 8 g N ≈ 38 g amoni sunfat; 8 g K2O ≈ 15,4 g kali sunfat.

  • Cho 100 cây, mỗi lần bón: khoảng 630 g amoni sunfat và 260 g kali sunfat.

  • Lân: 4 g P2O5 mỗi cây, lấy theo hàm lượng P2O5 ghi trên bao phân lân bà con dùng.

Với công thức TNAU, mỗi lần bón 8 g N tương đương khoảng 38 g amoni sunfat và 6 g K2O khoảng 11,5 g kali sunfat cho một cây. Kali sunfat là nguồn kali không có clo, có thể tham khảo Kali Sunphat (SOP).

Cách tính của Đại học Florida cho vườn nhà

Tài liệu HS7 của Đại học Florida (UF/IFAS, tác giả Jonathan Crane) viết cho vườn dứa nhỏ, dùng phân hỗn hợp NPK 6–10% mỗi loại, thêm 4–6% magie. Lượng bón mỗi cây tăng theo tuổi:

  • Tháng 1–3: 1–2 oz (khoảng 28–57 g).

  • Tháng 4–6: 1–3 oz (khoảng 28–85 g).

  • Tháng 6–12: 2–6 oz (khoảng 57–170 g).

  • Tháng 12–16: 3–6 oz (khoảng 85–170 g).

  • Tháng 17–24: 5–8 oz (khoảng 140–227 g).

Phân hàm lượng càng cao (như 10-10-10) thì dùng mức thấp. Bón nhỏ, cách nhau 6–8 tuần trong 14–16 tháng đầu để cây lớn khỏe. Sau khoảng 16 tháng thì giảm đạm khi chuẩn bị cho cây ra hoa. Hướng dẫn này cũng nêu phun phân qua lá đạm, lân, kali, magie mỗi 8–10 tuần với dung dịch loãng, theo nhãn để tránh cháy lá.

Vi lượng: kẽm và sắt phun qua lá

Bón gốc là chưa đủ với dứa, vì cây hay thiếu kẽm và sắt. Kerala khuyên phun kẽm sunfat 0,5% (5 g/lít) để phòng bệnh “cổ ngỗng” (đọt cong do thiếu kẽm). TNAU nêu kẽm sunfat và sắt sunfat 0,5–1% (5–10 g/lít), phun cách nhau 15 ngày ở giai đoạn đầu. UF/IFAS dùng sắt sunfat 1% khi hỗn hợp phun không có sắt, và phun vi lượng 2–3 lần mỗi năm vào mùa ấm.

Riêng kẽm có chỗ lệch nhau. Tài liệu của Đại học Hawaii (CTAHR) cho biết dung dịch phun nên không quá 1% sắt sunfat và không quá 0,1% kẽm sunfat, tổng muối dưới 5%, và phải ngừng phun qua lá trước khi cây trổ hoa vì có thể hại hoa, giảm trái. Mức kẽm giữa hai nơi chênh nhau 5 lần nên bà con đừng lấy mức cao: hãy bắt đầu thấp, thử vài cây. Bà con có thể xem Kẽm Sulfate hoặc Sắt Chelate.

Lưu ý khi pha và bón

  • Chia nhỏ, đừng dồn: theo Kerala, đạm và kali chia 6 lần; bón khi đất đủ ẩm, tránh lúc mưa lớn dễ trôi.

  • Thử trước khi phun: pha vi lượng xong, phun thử vài cây, chờ 2–3 ngày xem có cháy lá không rồi mới phun cả vườn.

  • Hòa tan từng chất riêng: sắt và kẽm sunfat hòa hẳn vào nước sạch trước khi đổ chung. Nguồn trên không nêu thứ tự pha, đây là cách làm cẩn thận chung.

  • Phun lúc mát: sáng sớm hoặc chiều tối, không phun giữa trưa nắng.

  • Ngừng phun lá trước khi ra hoa: theo CTAHR, để khỏi hại hoa và trái.

  • Đừng quên phân hữu cơ: lót trước khi trồng giúp đất giữ ẩm, giữ phân.

Tóm lại

Mốc nền là 8 g N : 4 g P2O5 : 8 g K2O cho mỗi cây một năm, chia làm 6 lần đạm, kali; mức cao hơn là 16 : 4 : 12 chia làm 2 lần. Kẽm, sắt phun qua lá thì bắt đầu nồng độ thấp và ngừng khi sắp ra hoa. Nhớ rằng đây là số liệu từ nước ngoài; đất, giống và vụ của bà con mình có thể khác.

Bà con cần tư vấn thêm cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Pineapple Research Station Vazhakkulam, Kerala Agricultural University, “Nutrition”; Tamil Nadu Agricultural University, Agritech Portal, “Horticulture: Fruits – Pineapple, fertilizer schedule”; Crane J.H., “Pineapple Growing in the Florida Home Landscape” (HS7/MG055), UF/IFAS; CTAHR, Đại học Hawaii, “Pineapple Cultivation in Hawaii” (F&N-7, 2002).

Ảnh minh họa: Daralnoble, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).