Hỏi mua vôi, bà con hay được hỏi lại: vôi bột, vôi nung hay vôi đôlômit? Bài này nói riêng về vôi đôlômit (dolomite): gồm những gì, khác các loại vôi và thạch cao ra sao, đất nào nên dùng, chọn độ mịn và tính lượng thế nào.
Vôi đôlômit là gì?
Đôlômit là đá tự nhiên chứa cả canxi lẫn magie, công thức CaMg(CO3)2, tức canxi cacbonat và magie cacbonat nằm chung trong một tinh thể. Đá được khai thác như đá vôi thường rồi nghiền thành bột. Khuyến nông Đại học Delaware (Mỹ) cho biết khi canxi và magie ngang nhau thì gọi là đôlômit, tỷ lệ lệch đi thì gọi là đá vôi đôlômit.
Thứ làm đất bớt chua là gốc cacbonat; canxi và magie ở lại làm dinh dưỡng cho cây (Đại học Wisconsin). Sổ tay phân bón của FAO và Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA) ghi: đá vôi đôlômit cấp thêm magie ở nơi đất cần.
Khác vôi nung, vôi tôi, bột đá vôi, thạch cao thế nào?
Bột đá vôi: đá vôi nghiền, gần như toàn canxi cacbonat (CaCO3), khử chua tốt nhưng không có magie.
Vôi đôlômit: có cả canxi và magie, tan chậm hơn bột đá vôi một chút.
Vôi nung (vôi sống, CaO): nung đá vôi cho bay khí CO2. Đại học Delaware mô tả loại này rất ăn da, bột rất mịn, khó rải, phản ứng rất mạnh.
Vôi tôi (Ca(OH)2): vôi nung tôi với nước, cũng ăn da, tác dụng nhanh.
Thạch cao (CaSO4): có canxi và lưu huỳnh nhưng không phải vôi. Khuyến nông Đại học Iowa State giải thích thạch cao là muối trung tính, không làm tăng hay giảm độ chua, nên không thay được vôi.
Lấy canxi cacbonat nguyên chất làm mốc 100% sức khử chua thì theo Đại học Wisconsin và Đại học Delaware, đôlômit nguyên chất khoảng 109%, vôi tôi 136%, vôi nung 179%. Đôlômit nhỉnh hơn vì magie nhẹ hơn canxi. Hàng thực tế lẫn đất, cát nên thấp hơn bảng. Vôi nung, vôi tôi mạnh nhưng dễ hại rễ, bỏng da người rải; đôlômit hiền hơn, tác dụng từ từ mà bền.
Đất nào nên dùng đôlômit?
Đất chua mà phân tích cho thấy magie thấp: đôlômit vừa nâng pH vừa cấp magie.
Đất cát, đất nghèo magie hoặc bón nhiều kali lâu năm. Đại học Wisconsin cho biết ở những đất này, magie trong vôi đôlômit có thể có lợi.
Lo đôlômit làm lệch tỷ lệ canxi trên magie? Đại học Wisconsin thử cả hai loại vôi trên đất có tỷ lệ này từ 2 đến 8, không thấy khác biệt đáng kể về năng suất. Chọn loại nào chủ yếu tùy giá và đất có thiếu magie không.
Đất không chua thì đừng bón đôlômit chỉ để lấy magie, vì pH sẽ lên thêm. Khi đó dùng nguồn magie không đổi pH như magie sunfat bón gốc hoặc phun magie chelate, liều theo hướng dẫn trên bao bì.
Độ mịn quyết định tốc độ tác dụng
Đá vôi tan rất chậm, mỗi hạt chỉ khử chua phần đất sát quanh nó. Hạt càng nhỏ, bề mặt càng lớn, đất càng nhanh hết chua. Bang Wisconsin tính hiệu lực trong 3 năm theo cỡ rây:
Nằm lại trên rây số 8 (lỗ khoảng 2,4 mm): coi như không có tác dụng.
Lọt rây số 8, nằm lại rây số 20 (khoảng 0,85 mm): khoảng 20%.
Lọt rây số 20, nằm lại rây số 60 (khoảng 0,25 mm): khoảng 60%.
Lọt rây số 60: đầy đủ.
Theo Đại học Wisconsin, nghiền mịn như vôi nông nghiệp thông thường thì sau 2 đến 3 năm đôlômit và bột đá vôi gần như ngang nhau. Vôi trộn kỹ với đất thì pH bắt đầu tăng sau vài tuần; chỉ rải trên mặt thì vôi đi xuống chưa tới 2,5 cm mỗi năm. Nên rải xong cày, xới trộn đều.
Bón bao nhiêu? Dựa vào phiếu phân tích đất
Lượng vôi tùy độ chua, loại cây, đất nhiều sét hay cát, nhiều hay ít mùn (Đại học Delaware), nên không có con số chung. Cách chắc nhất là gửi mẫu đất phân tích; phiếu kết quả thường có pH và nhu cầu vôi, tính theo một loại vôi chuẩn.
Vôi mua về phải quy đổi theo sức khử chua và độ mịn; Đại học Delaware nhân hai con số này để ra hàm lượng hữu hiệu. Ví dụ minh họa: vôi có sức khử chua 95%, hệ số độ mịn 80% thì hữu hiệu khoảng 76%; phiếu khuyến cáo 1 tấn vôi chuẩn 100% thì cần chừng 1,3 tấn loại này. Teagasc (cơ quan nông nghiệp Ireland) khuyên mỗi lần rải không quá 7,5 tấn/ha.
Lưu ý: không bón cùng lúc với urê, phân amoni, phân chuồng
Quanh hạt vôi pH tăng cao, đạm dạng amoni dễ thành khí amoniac bay mất. Sổ tay FAO và IFA cảnh báo trộn phân có amoni với vôi sẽ mất đạm, và khuyên không bón vôi cùng lúc với phân bón mà nên cách nhau một thời gian.
Không trộn đôlômit với urê, SA, DAP, MAP hay NPK có đạm amoni để rải một lần.
Teagasc khuyên: rải urê hoặc phân chuồng lỏng rồi thì đợi ít nhất 7 ngày mới rải vôi; rải vôi rồi thì đợi 3 tháng mới rải urê hoặc phân chuồng lỏng.
Phân chuồng tươi cũng chứa đạm amoni: đừng rắc vôi vào đống phân hay bón cùng ngày.
Đừng bón quá tay: FAO và IFA lưu ý nâng pH đất nhiệt đới lên tới 7 có thể làm cây thiếu vi lượng (trừ molipđen).
Tóm lại
Vôi đôlômit vừa khử chua vừa cấp magie, hợp nhất với đất chua thiếu magie. Chọn loại nghiền mịn, tính lượng theo phiếu phân tích đất, trộn đều vào đất, giãn cách với urê, phân amoni, phân chuồng.
Bà con cần tư vấn thêm về cải tạo đất chua và bổ sung magie, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: FAO và IFA (2000), “Fertilizers and their use”; Khuyến nông Đại học Wisconsin, “Choosing between liming materials” (A3671); Khuyến nông Đại học Delaware (2025), “Liming Materials and Management”; Teagasc (Ireland), “Liming plan”; Khuyến nông Đại học Iowa State, “Gypsum: an old product with a new use”.
Ảnh minh họa: София Угарова, Wikimedia Commons (CC BY 4.0).