Nhổ cây đậu phộng, đậu nành khỏe lên, bà con hay thấy trên rễ có những cục u nhỏ. Đó không phải bệnh mà là nốt sần, nơi vi khuẩn lấy đạm từ không khí cho cây. Ở Úc, Mỹ, nông dân thường trộn chế phẩm vi khuẩn nốt sần vào hạt trước khi gieo. Bài này tổng hợp tài liệu khuyến nông Úc, Mỹ: khi nào nên dùng, dùng sao cho vi khuẩn còn sống.

Vi khuẩn nốt sần cố định đạm thế nào?

  • Không khí chứa rất nhiều khí nitơ nhưng cây không tự dùng được. Vi khuẩn nốt sần (Rhizobium, Bradyrhizobium) thì làm được khi sống trong rễ cây họ đậu.

  • Vi khuẩn đúng loại nhận tín hiệu từ rễ, chui vào qua lông hút; rễ phình lên thành nốt sần.

  • Trong nốt sần, men nitrogenase biến khí nitơ thành amoniac cho cây; đổi lại, cây nuôi vi khuẩn bằng đường. Việc này rất tốn năng lượng (Lindström và Mousavi, 2020).

  • Men này sợ oxy. Cây tạo ra leghemoglobin, giống huyết sắc tố trong máu, để giữ oxy ở mức thấp; chất này làm ruột nốt sần có màu hồng đỏ.

  • Men cố định đạm có chứa molypden (Mo), nên đất thiếu Mo thì nốt sần làm việc kém.

Rhizobium hay Bradyrhizobium: phải đúng cặp

Mỗi nhóm đậu chỉ hợp với một số dòng vi khuẩn (GRDC):

  • Bradyrhizobium japonicum: đậu nành (đậu tương).

  • Các loài Bradyrhizobium khác: đậu phộng (lạc), đậu xanh, đậu trắng, đậu săng.

  • Rhizobium leguminosarum: đậu Hà Lan, đậu tằm, đậu lăng.

Dùng nhầm nhóm thì gần như không có nốt sần, nên mua chế phẩm ghi đúng tên cây mình trồng.

Khi nào cần nhiễm khuẩn cho hạt?

Đất đã sẵn nhiều vi khuẩn phù hợp thì trộn thêm thường không tăng năng suất: thí nghiệm năm 2007 của Iowa State trên ruộng từng trồng đậu nành không thấy chế phẩm nào hơn rõ rệt so với không xử lý. Nên nhiễm khuẩn khi:

  • Ruộng chưa từng trồng loại đậu đó, hoặc lâu rồi không trồng: Penn State lấy mốc 3 năm, Iowa State 3–5 năm, GRDC hơn 4 năm.

  • Đất chua: theo GRDC, đất pH dưới 5,5 thường phải nhiễm khuẩn mỗi vụ cho cây đậu lấy hạt vì vi khuẩn khó tồn tại lâu; với đậu nành, Iowa State lấy mốc pH dưới 6,0.

  • Đất nhiều cát, ruộng bị ngập quá một tuần (Iowa State), hoặc sau một mùa khô nóng kéo dài (GRDC).

  • Gieo vào đất khô, đất rất chua hoặc lần đầu dùng nhóm chế phẩm đó: GRDC khuyên cân nhắc gấp đôi lượng chế phẩm.

Cách trộn chế phẩm vào hạt

  • Trộn ở chỗ râm mát, trên bạt hoặc thau sạch, lượng theo hướng dẫn trên bao bì.

  • Làm ẩm hạt vừa đủ bằng chất dính bán kèm, hoặc nước đường, rỉ mật pha 1 phần với 10 phần nước (Penn State), rồi rắc chế phẩm, đảo đều. Đừng để hạt quá ướt kẻo nứt mầm sớm.

  • Hong hạt trong bóng râm rồi gieo ngay vào đất ẩm: chế phẩm than bùn gieo trong 24 giờ, hạt đã áo thuốc nấm thì trong 6 giờ (GRDC).

  • Không dùng nước giếng nhiễm mặn hay nước máy có clo; nước máy nên để yên ít nhất 24 giờ (GRDC).

Bảo quản chế phẩm

  • Vi khuẩn là sinh vật sống: giữ chế phẩm ở ngăn mát, khoảng 4–10°C, không để đông đá, tránh nắng và nơi nóng trên 25°C (GRDC).

  • Không để chế phẩm, hạt đã trộn trên xe giữa trời nắng; không dùng chế phẩm quá hạn (Penn State).

Tương thích với thuốc xử lý hạt, phân bón, vôi

  • Thuốc nấm xử lý hạt: thiram rất độc với vi khuẩn nốt sần, metalaxyl cũng có thể kìm hãm. Nếu phải dùng, để thuốc khô hẳn rồi mới trộn vi khuẩn và gieo thật sớm; tốt hơn là đưa chế phẩm dạng hạt, dạng lỏng xuống rãnh riêng (GRDC).

  • Phân bón, vi lượng: không trộn chế phẩm hay hạt đã nhiễm khuẩn với phân, nhất là phân chua như MAP, super lân. Kẽm, mangan, đồng áo hạt cũng độc; không pha vi lượng chung bồn với chế phẩm lỏng.

  • Molypden: đất chua dễ thiếu Mo. GRDC cho phép áo hạt bằng molypden trioxit hoặc amoni molipdat khi nhiễm khuẩn, nhưng không dùng natri molipdat để áo hạt vì độc với vi khuẩn.

  • Phân đạm: đất nhiều đạm thì cây lười cố định đạm. GRDC cho biết đạm nitrat trên 200 kg N/ha (lớp đất 1 m) thì nốt sần gần như ngừng làm việc. Penn State: không bón đạm cho cây đậu đã có nốt sần tốt.

  • Vôi: bón vôi trước khi gieo để nâng pH đất chua; Penn State khuyên đưa pH lên 6,5–7,0.

Kiểm tra nốt sần hữu hiệu: bổ ra xem ruột hồng

  • Xem từ 2–4 tuần sau mọc (Penn State); đánh giá kỹ lúc cây chớm ra hoa, khoảng 6–8 tuần với cây vụ nóng (GRDC).

  • Lấy khoảng 10 cây ở mỗi điểm, ít nhất 3 điểm. Đào chứ đừng nhổ, rồi rửa đất nhẹ trong xô nước.

  • Bổ đôi vài nốt: ruột hồng đỏ là đang cố định đạm; trắng là nốt non hoặc vi khuẩn không hữu hiệu; xanh, nâu là nốt già. Nốt tốt thường tụ quanh rễ cái.

  • Ít nốt: Penn State cho biết có thể nhiễm khuẩn bổ sung trong 4 tuần đầu sau mọc, như phun dịch vi khuẩn xuống đất ngay trước mưa hoặc trước khi tưới; GRDC gợi ý bón đạm cứu năng suất với cây giá trị cao, rồi sửa cách làm cho vụ sau.

Lưu ý

  • Ruộng trồng đậu thường xuyên, nốt sần tốt thì chưa chắc cần chế phẩm.

  • Nốt sần làm tốt khi cây khỏe, đủ nước, đất không quá chua.

Tóm lại

Chọn đúng nhóm vi khuẩn cho từng cây, trộn trong bóng râm và gieo ngay, giữ chế phẩm mát, tách khỏi thuốc nấm và phân chua, rồi bổ nốt sần xem ruột có hồng không.

Bà con cần tư vấn thêm về dinh dưỡng cho cây họ đậu, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: GRDC (Úc) – Farquharson và cộng sự, Inoculating Legumes: Practice and Science (2022); Penn State Extension – Inoculation of Forage and Grain Legumes; Iowa State University Extension – Seed Inoculation (ICM Encyclopedia); Lindström K., Mousavi S.A. – Effectiveness of nitrogen fixation in rhizobia, Microbial Biotechnology (2020).

Ảnh minh họa: Rosser1954, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).