Nhiều bà con nghe "bón silic cho cây cứng", "phun kali silic chống đổ" rồi hỏi: silic có bắt buộc không, cây nào cần, mua dạng nào? Website đã có bài silic cho lúa, cho chè; bài này nói chung cho nhiều loại cây, tổng hợp từ khuyến nông đại học và tạp chí khoa học nước ngoài.

Silic là gì, cây có bắt buộc phải có?

  • Silic (Si) là nguyên tố nhiều thứ hai trong vỏ Trái Đất, sau oxy, nhưng phần lớn nằm trong cát, khoáng, đá. Cây chỉ hút được silic hòa tan trong nước đất, ở dạng axit silicic.

  • Theo nghĩa hẹp, silic không phải chất dinh dưỡng thiết yếu: thiếu nó, đa số cây vẫn sống hết vòng đời. Silic được xếp vào nhóm nguyên tố có lợi; ở Mỹ, hiệp hội các cơ quan quản lý phân bón (AAPFCO) công nhận silic là "chất có lợi".

  • Lợi ích của silic rõ nhất khi cây gặp bất lợi: sâu bệnh, hạn, mặn, đất độc. Cây đang khỏe, đủ ăn thì bón thêm nhiều khi khó thấy khác biệt.

Cây hút silic nhiều và cây hút ít

Silic trong lá các loài chênh nhau rất xa, từ khoảng 0,1% đến 10% chất khô:

  • Hút nhiều: lúa, mía, nhiều cây họ hòa thảo, họ cói, thường trên 4% chất khô.

  • Trung bình: bầu bí, dưa leo, khoảng 2–4%.

  • Hút ít, gần như "đẩy ra": cà chua, đậu tằm. Cây họ cải gần như đã mất loại "cửa" chuyên hút silic ở rễ.

Vì vậy cùng một lượng silic, bón cho lúa, mía dễ thấy hiệu quả hơn nhiều so với cà chua hay rau cải.

Silic giúp cây những gì?

  • Cứng cây, đỡ đổ: silic theo dòng nước lên lá rồi đọng thành lớp silica (như thủy tinh rất mỏng) ở vách tế bào, dưới biểu bì. Gốc thân chắc hơn, lá đứng hơn.

  • Bớt sâu bệnh: mô lá cứng, nhám làm nấm khó đâm xuyên, sâu và rầy khó ăn. Silic còn giúp cây phòng vệ nhanh hơn, tiết nhiều hợp chất phenol, phytoalexin, enzym kháng bệnh khi bị tấn công.

  • Trên lúa, các nhà bệnh cây Rodrigues và Datnoff tổng kết silic giảm đạo ôn lá và cổ bông, khô vằn, đốm nâu, bạc lá, thối thân; có thí nghiệm hiệu quả ngang thuốc.

  • Chịu hạn, mặn: lớp silica giảm mất nước qua mặt lá; cây hút ít muối natri hơn và giữ kali tốt hơn.

  • Giảm độc kim loại: nhiều thí nghiệm thấy silic làm giảm tác hại của nhôm, mangan, cadimi, asen.

Cần nói thật: nhiều kết quả đến từ thí nghiệm trong chậu, nhà lưới; cơ chế chưa hiểu hết, nhất là ở cây hai lá mầm.

Ví dụ thực tế: mía ở Florida (Mỹ)

Khuyến nông UF/IFAS theo dõi mía trên đất hữu cơ (than bùn) nghèo silic:

  • Bón xỉ canxi silicat (khoảng 20% Si) 3 tấn Mỹ mỗi mẫu Anh (gần 6,7 tấn/ha), năng suất mía tăng trung bình khoảng 20%.

  • Ruộng bón đôlômit (cũng có canxi, cũng nâng pH) không tăng tương tự, nghĩa là năng suất tăng nhờ silic chứ không nhờ vôi.

  • Năng suất đường tốt nhất khi silic trong lá trên 0,6%. Khảo sát ước khoảng 25% ruộng mía trên đất hữu cơ ở đó mất hơn 10% năng suất vì thiếu silic.

Đó là đất riêng của Florida; bà con đừng chép nguyên liều khi chưa phân tích đất, lá.

Các dạng phân silic

  • Xỉ canxi silicat: phụ phẩm luyện kim, bón đất trước khi trồng, tan chậm, tác dụng lâu.

  • Wollastonit: khoáng canxi silicat tự nhiên, khoảng 24% silic và 34% canxi, bón đất.

  • Kali silicat, natri silicat: tan trong nước, dùng tưới, châm nhỏ giọt hoặc phun lá, ví dụ kali silicat (K2SiO3) dạng bột tan, pha theo hướng dẫn trên bao bì.

  • Axit silicic "ổn định": axit silicic để lâu trong nước dễ tự đông kết, nên nhà sản xuất thêm chất giữ ổn định. Nên xem kỹ hàm lượng Si hữu hiệu trên nhãn.

  • Rơm rạ, trấu, bã mía chứa nhiều silic; trả lại ruộng là cách hoàn trả silic rẻ nhất.

Đừng nhầm "silic" với "silicone": chất bám dính, loang trải gốc silicone giúp thuốc phun lan đều, không phải phân cung cấp silic.

Bón đất hay phun lá?

  • Với bệnh hại, Rodrigues và Datnoff nhận xét đưa silic vào rễ hiệu quả hơn phun lá, vì cây được cấp đều và tăng sức đề kháng cho cả lá lẫn rễ. Phun lá vẫn giảm được một số bệnh lá.

  • Cây hút nhiều trồng trên đất nghèo silic (đất phong hóa mạnh vùng nhiệt đới, đất than bùn) nên ưu tiên bón đất.

  • Tưới nhỏ giọt, thủy canh chỉ cần lượng nhỏ nhưng đều: nhóm Đại học bang Utah duy trì khoảng 0,3 mmol silic mỗi lít nước tưới (chừng 8 mg Si/lít).

Lưu ý khi dùng kali silicat

  • Kiềm rất mạnh. Theo Đại học bang Utah, ở pH 4–8 silic tan rất ít; dung dịch kali silicat đậm đặc phải giữ pH khoảng 11 mới trong. Hạ pH là silic đông thành cặn, nghẹt béc phun, bộ châm phân.

  • Kỵ canxi: canxi trong nước cứng cũng làm silic kết tủa. Không pha chung bồn đậm đặc với canxi nitrat hay phân tính axit; pha silic riêng, thật loãng, thử trước trong xô nhỏ.

  • Mang găng tay, kính khi pha vì dung dịch kiềm gây rát da, hại mắt.

Tóm lại

Silic là nguyên tố có lợi, không bắt buộc, nhưng rất đáng chú ý với lúa, mía và cây họ hòa thảo trên đất nghèo silic: cây cứng, đỡ đổ, bớt sâu bệnh, chịu hạn mặn tốt hơn. Bón đất cho tác dụng bền; kali silicat tiện tưới, phun nhưng kiềm mạnh, phải pha riêng, pha loãng.

Bà con cần tư vấn về silic hay cách phối phân cho vườn nhà, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Luyckx và cộng sự – Silicon and Plants: Current Knowledge and Technological Perspectives, Frontiers in Plant Science (2017); Zargar và cộng sự – Role of silicon in plant stress tolerance, 3 Biotech (2019); UF/IFAS Extension – Calcium Silicate Recommendations for Sugarcane on Florida Organic Soils (SS-AGR-350); Rodrigues, Dallagnol, Duarte, Datnoff – Silicon control of foliar diseases in monocots and dicots, Silicon and Plant Diseases (Springer, 2015); Fatzinger, Bugbee, Utah State University – pH 11.3 Enhances the Solubility of Potassium Silicate for Liquid Fertilizer (2021).

Ảnh minh họa: Forest and Kim Starr, Wikimedia Commons (CC BY 3.0 US).