Đi mua phân kali, bà con giờ hay nghe thêm cái tên lạ: polyhalit (polyhalite). Có người gọi là “kali sunfat tự nhiên”, thật ra không hẳn vậy. Bài này nói rõ polyhalit là gì, khác kali sunfat, kieserite và thạch cao chỗ nào, hợp đất nào, bón ra sao.
Polyhalit là gì?
Polyhalit là khoáng muối nằm sâu dưới lòng đất, hình thành từ nước biển cổ bốc hơi. Trong cùng một tinh thể có đủ bốn chất: kali, canxi, magie và lưu huỳnh (dạng sunfat), công thức K2Ca2Mg(SO4)4·2H2O. Quặng được đào lên, nghiền nhỏ hoặc làm hạt để bón.
Một nghiên cứu trên tạp chí Frontiers in Plant Science (2019), dùng polyhalit khai thác ở Anh, ghi thành phần điển hình:
Kali: khoảng 14% K2O.
Canxi: khoảng 17% CaO.
Magie: khoảng 6% MgO.
Lưu huỳnh: khoảng 48% SO3, tức chừng 19% S.
Con số thay đổi theo mỏ, nên bà con đọc kỹ hàm lượng trên bao. Để ý: lưu huỳnh và canxi còn nhiều hơn kali. Polyhalit cũng gần như không có clo, khác kali clorua (kali đỏ).
Khác kali sunfat, kieserite và thạch cao thế nào?
Cả bốn loại đều là muối sunfat nên đều cấp lưu huỳnh. Cái khác nằm ở chất “đi kèm”:
Kali sunfat (K2SO4, kali trắng): kali rất đậm, khoảng 50–52% K2O, kèm chừng 18% lưu huỳnh, không có canxi, magie. Tan được trong nước, dùng được cả bón gốc lẫn pha tưới.
Kieserite (MgSO4·H2O): chuyên magie và lưu huỳnh, không có kali, canxi.
Thạch cao (CaSO4·2H2O): chỉ có canxi và lưu huỳnh.
Polyhalit: một hạt đủ bốn chất, chất nào cũng ở mức vừa phải, tan chậm hơn kali sunfat.
Nói gọn: kali sunfat “chuyên kali”, kieserite “chuyên magie”, thạch cao “chuyên canxi”, còn polyhalit “mỗi thứ một ít, nhả từ từ”. Kali chỉ khoảng 14%, nên muốn đủ kali mà chỉ dùng polyhalit thì phải bón rất nặng tay.
Tan chậm: lợi hay hại?
Polyhalit tan kém hơn kali sunfat, nên trong đất nó nhả dinh dưỡng dần theo nước mưa, nước tưới. Vài kết quả nghiên cứu:
Viện Volcani (Israel, 2017) trồng lúa mì trong chậu cát: so với lượng muối sunfat dễ tan tương đương, polyhalit cấp dinh dưỡng hiệu quả hơn, ít bị rửa trôi hơn, vụ sau còn hưởng phần dư nhiều hơn, rõ nhất là canxi, magie, lưu huỳnh. Tác giả lưu ý cách tưới quyết định nhiều: nước thấm xuống càng nhiều càng hao.
Thí nghiệm năm 2020 trồng cà rốt trên đất cát và đất thịt có mưa giả lập: polyhalit giữ nhiều dinh dưỡng ở lớp đất mặt, ít trôi xuống dưới vùng rễ; trên đất cát, cà rốt năng suất cao hơn nhờ hút thêm canxi. Nhưng vụ ngô trồng sau đó gần như không khác biệt.
Đại học Aberdeen (Anh, 2020) cho lượng nước tương đương 4.500 mm mưa chảy qua cột đất: dinh dưỡng từ polyhalit vẫn xuống tới độ sâu 30 cm, tức rễ vẫn lấy được.
Lợi là dinh dưỡng không bị cuốn đi ồ ạt sau một trận mưa. Hạn chế: polyhalit không phải phân “cấp cứu”. Cây cần gấp thì dùng loại tan nhanh.
Hợp đất nào, cây nào?
Đất cát, đất nhẹ, nghèo canxi, magie, lưu huỳnh, nơi mưa theo đợt dễ rửa trôi phân. Nghiên cứu năm 2020 kết luận polyhalit hợp vùng canh tác nhờ nước trời.
Ruộng thiếu lưu huỳnh: bốn thí nghiệm đồng ruộng ở Anh (2013–2016) trên đại mạch và ngô thức ăn xanh cho thấy polyhalit cấp được cả kali lẫn lưu huỳnh.
Cây không ưa clo: polyhalit có thể thay một phần kali clorua.
Khoai tây: ở Israel, bón polyhalit muộn (sau khi làm chết thân lá) giúp vỏ củ đẹp hơn ở vài giống, nhưng chỉ cải thiện vừa phải.
Polyhalit không khử chua đất. Nó là muối trung tính, không có gốc cacbonat như vôi. Đất chua vẫn phải bón vôi theo kết quả đo pH.
Cách bón cho đúng
Tính lượng theo chất cây thiếu nhất, thường là lưu huỳnh, canxi hoặc magie; kali còn thiếu thì bù bằng phân kali khác. Lượng cụ thể theo hướng dẫn trên bao.
Bón lót, bón sớm: rải đều trước trồng hoặc đầu vụ, vùi nhẹ hoặc tưới cho đất ẩm để hạt bắt đầu tan.
Không pha tưới nhỏ giọt, không phun lá: tan chậm, dễ đọng cặn, nghẹt béc. Cần cấp nhanh thì dùng loại tan hoàn toàn như Kali Sunphat cho kali, Magie Sulfate cho magie.
Tưới vừa đủ, tránh tưới đẫm liên tục làm nước thấm sâu cuốn dinh dưỡng đi.
Lưu ý
Hàm lượng mỗi mỏ, mỗi lô khác nhau; luôn tính theo số in trên bao.
Không phải lúc nào cũng hơn: ở Anh, lượng kali, lưu huỳnh cây hút từ polyhalit ngang hoặc hơn kali clorua, kali sunfat ở ba trong bốn thí nghiệm, nhưng tổng chất khô chỉ ngang kali clorua và hơi thấp hơn kali sunfat.
Thí nghiệm khoai tây dùng 1.500 kg/ha; đó là lượng thí nghiệm, không phải khuyến cáo chung.
So giá theo mỗi kg chất cây thật sự nhận, đừng so theo bao.
Nghiên cứu chủ yếu làm ở châu Âu, Israel; lần đầu dùng nên thử trên một phần ruộng, vườn.
Tóm lại
Polyhalit là khoáng tự nhiên cấp cùng lúc kali, canxi, magie, lưu huỳnh, ít clo, nhả chậm; hợp bón lót trên đất cát, đất thiếu trung lượng, nơi hay mưa rửa trôi. Nó không thay được kali sunfat khi cây cần nhiều kali, không thay vôi, và không dùng pha tưới hay phun lá.
Bà con cần tư vấn thêm về chọn phân kali, magie, lưu huỳnh, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: Yermiyahu và cộng sự (2017), “Polyhalite as a multi nutrient fertilizer – potassium, magnesium, calcium and sulfate”, Israel Journal of Plant Sciences; Huang và cộng sự (2020), “Effect of leaching events on the fate of polyhalite nutrient minerals used for crop fertilization”, Journal of Plant Nutrition; Lewis và cộng sự (2020), “Retention and release of nutrients from polyhalite to soil”, Soil Use and Management; Lillywhite và cộng sự (2020), “The response of winter barley and forage maize crops to polyhalite, a multi-nutrient fertilizer”, The Journal of Agricultural Science; Keren-Keiserman và cộng sự (2019), “Effects of polyhalite fertilization on skin quality of potato tuber”, Frontiers in Plant Science.
Ảnh minh họa: James St. John, Wikimedia Commons (CC BY 2.0).