Nhiều bà con pha đúng liều mà phun lúc ăn lúc không, rồi nghi hàng giả. Có khi thủ phạm lại nằm ở chính nguồn nước pha. Một bình phun có tới hơn 95% là nước. Nước kiềm (pH cao) hoặc cứng (nhiều vôi), như nước giếng khoan ở nhiều vùng, có thể làm thuốc phân hủy ngay trong bình, làm phân kết tủa, nghẹt béc. Bài này chỉ bà con nhận biết, kiểm tra và chỉnh nước trước khi pha.
Dấu hiệu nước pha đang có vấn đề
Phun đúng liều nhãn mà hiệu quả kém, chỗ ăn chỗ không, tưởng sâu bệnh “lờn thuốc”.
Pha vào thấy vẩn đục, váng, lắng cặn; béc phun, lưới lọc hay nghẹt.
Ấm đun nước, vòi sen, bồn chứa đóng cặn trắng: dấu hiệu nước cứng.
pH nước ảnh hưởng thế nào?
Nước kiềm làm thuốc “chết” trong bình
Phần lớn thuốc bảo vệ thực vật có tính axit yếu hoặc trung tính, bền nhất trong nước hơi chua, khoảng pH 4–6,5. Gặp nước kiềm (pH trên 7), nhiều hoạt chất bị thủy phân kiềm, tức là bị bẻ gãy ngay trong bình. pH càng cao càng phân hủy nhanh: theo tài liệu khuyến nông Virginia, mỗi khi pH tăng 1 đơn vị, tốc độ phân hủy có thể tăng khoảng 10 lần, và nước càng nóng càng nhanh.
Ví dụ trong tài liệu này: hoạt chất trừ sâu dimethoate pha trong nước pH 9 thì chỉ khoảng 48 phút đã mất một nửa, trong khi ở pH 6 phải mất khoảng 12 tiếng. Hay bị nhất là nhóm lân hữu cơ, carbamate, nhiều thuốc trừ bệnh và một số thuốc cỏ dạng muối. Đã phân hủy là mất hẳn.
Nhưng không phải càng chua càng tốt
Thuốc gốc đồng gặp nước quá chua thì đồng tan ra nhiều, dễ gây cháy lá.
Hỗn hợp có vôi, lưu huỳnh vôi không được làm chua nước.
Một số thuốc lại cần pH cao hơn mới tan tốt. Nhãn ghi pH bao nhiêu thì theo nhãn.
Vi lượng dạng chelate cũng kém bền nếu dung dịch quá chua (dưới khoảng pH 3).
Nước cứng là gì, hại gì?
Nước cứng là nước có nhiều canxi, magie (và cả sắt, nhôm) hòa tan. Cần nhớ: pH và độ cứng là hai chuyện khác nhau, nước có thể trung tính mà vẫn rất cứng. Độ cứng thường tính bằng mg/lít (ppm) quy ra CaCO₃; trên khoảng 120 ppm đã xếp vào loại cứng và nên xử lý.
Với thuốc: canxi, magie bám vào các hoạt chất dạng axit yếu, khiến thuốc mất tác dụng. Nặng nhất là một số thuốc cỏ như glyphosate, 2,4-D; nước cứng khoảng 500 ppm có thể làm 2,4-D mất tác dụng hoàn toàn.
Với phân bón lá: canxi gặp lân (MKP, MAP, DAP) dễ tạo cặn canxi phốt phát, gặp sunfat tạo cặn thạch cao. Nước càng cứng, pha càng đặc thì càng dễ đóng cặn.
Vi lượng dạng muối (sunfat sắt, kẽm, đồng) gặp nước kiềm, nước cứng dễ kết tủa. Vi lượng kim loại phải có chất chelate như EDTA giữ lại thì mới tan bền trong nước.
Ngoài ra, nước đục, nhiều phù sa cũng hại: hạt sét bám lấy hoạt chất (như glyphosate, paraquat) và làm nghẹt béc. Cách thử dân dã: thả một đồng xu vào xô nước chừng 20 lít, nhìn không thấy đồng xu dưới đáy là nước quá đục.
Kiểm tra nước tại vườn
pH: dùng que thử pH hoặc bút đo đã hiệu chuẩn. Đo ngay khi lấy nước; nước trữ lâu trong bồn thì đo lại trước khi pha.
Độ cứng: dùng que thử độ cứng hoặc bộ test nước hồ bơi, hồ cá, giá khá rẻ.
Đo lại pH sau khi pha đủ các thứ, vì phân bón, thuốc cũng làm đổi pH của cả bình.
Để ý cả nhiệt độ nước: nước quá lạnh hoặc quá nóng (bồn phơi nắng gắt) đều có thể làm giảm hiệu lực một số thuốc.
Chỉnh nước trước khi pha
Ưu tiên nguồn nước tốt hơn nếu có: nước mưa trữ sạch, nước máy, nước sông đã để lắng trong.
Nước kiềm: dùng chất điều chỉnh pH (chất đệm, chất làm chua) bán riêng cho việc pha thuốc, liều theo bao bì. Cho vào nước trước, khuấy đều, đo lại rồi mới cho thuốc. Đưa về hơi chua, khoảng 5–6,5 với đa số thuốc, trừ khi nhãn ghi khác.
Không tự ý đổ axit đặc; không hạ pH khi bình có thuốc gốc đồng, vôi, lưu huỳnh vôi.
Nước cứng: dùng chất làm mềm nước hoặc phân amoni sunfat (SA) khi nhãn thuốc có khuyến cáo (nhãn glyphosate thường có). Cho vào nước trước, sau đó mới cho thuốc.
Vi lượng nên chọn dạng chelate EDTA, ít bị nước cứng làm kết tủa hơn dạng muối sunfat, như hỗn hợp vi lượng EDTA hay Sắt Chelate Fe-EDTA-13.
Nước đục: để lắng, lọc qua vải mịn, giữ lưới lọc ở miệng bình.
Lưu ý
Pha xong phun ngay. Nước pH 6–7 phun liền thì ổn, nhưng để 1–2 tiếng nhiều thuốc đã bắt đầu giảm hiệu lực. Không để hỗn hợp qua đêm.
Đổi nguồn nước thì pha thử một ít trong chai trong suốt trước, xem có vẩn đục, kết tủa không.
Tóm lại
Nước pha không chỉ là “nước lã”. Nước kiềm làm thuốc phân hủy, nước cứng làm thuốc mất tác dụng và phân bón lá đóng cặn. Vài phút kiểm tra bằng que thử, chỉnh nước về hơi chua, xử lý độ cứng, dùng vi lượng chelate và pha xong phun ngay là giữ được phần lớn hiệu quả tiền thuốc, tiền phân.
Bà con cần tư vấn cách pha phân bón lá, vi lượng chelate với nguồn nước nhà mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: Khuyến nông Virginia (Virginia Tech) – BSE-350 “Spray Water Quality and Pesticide Characteristics”; Khuyến nông Đại học Purdue – PPP-86 “The Impact of Water Quality on Pesticide Performance”; Khuyến nông Đại học Bang Iowa – “Water Quality and Pesticide Performance”; Khuyến nông Đại học Nebraska–Lincoln – G2350 về pha trộn thuốc trong bình; Haifa Group – Hướng dẫn tương thích và độ tan của phân bón.
Ảnh minh họa: Danjuma Anthony, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).