Ra cửa hàng vật tư, bà con hay gặp hai loại phân lân đạm quen mặt: DAP 18-46-0 và MAP 11-52-0. Nhiều người nghĩ MAP "52 lân" mạnh hơn DAP "46 lân". Thật ra khác nhau đáng để ý nhất là độ pH ngay quanh hạt phân khi tan. Bài này tổng hợp tài liệu IPNI, FAO và khuyến nông đại học Mỹ để bà con chọn đúng, bón đúng.
DAP và MAP là gì?
DAP (diamoni photphat): chuẩn là 18-46-0, tức 18% đạm và 46% lân (tính theo P2O5). Theo IPNI, đây là loại phân lân được dùng nhiều nhất thế giới.
MAP (monoamoni photphat): phổ biến nhất là 11-52-0. Tùy độ sạch của axit dùng để sản xuất, đạm dao động 10–12%, lân 48–61%. MAP có hàm lượng lân cao nhất trong các loại phân rắn thông dụng.
Cả hai làm từ axit photphoric và amoniac; DAP gắn hai phần amoni nên nhiều đạm hơn. Cả hai đều dễ tan: ở 20°C, một lít nước hòa được khoảng 588 g DAP hoặc 370 g MAP (IPNI).
Khác nhau lớn nhất: pH quanh hạt phân
Hạt phân tan dần trong đất ẩm, tạo quanh nó một vùng nhỏ rất đậm đặc; rễ và mầm nằm sát đó chịu ảnh hưởng trước.
DAP: dung dịch có pH khoảng 7,5–8, tức hơi kiềm. Trong môi trường kiềm, một phần đạm amoni chuyển thành khí amoniac tự do.
MAP: dung dịch có pH khoảng 4–4,5, tức khá chua. Môi trường chua giữ đạm ở dạng amoni, nên MAP ít bị bay hơi amoniac (IPNI).
Tính kiềm quanh hạt DAP chỉ là tạm thời: vi khuẩn trong đất dần đổi amoni thành nitrat, làm pH hạ xuống trở lại.
Vì sao không nên đặt DAP sát hạt giống?
Khí amoniac tự do độc với mầm non và rễ non. IPNI cho biết nguy cơ này hay gặp khi pH đất trên 7, mà vùng quanh hạt DAP đang tan lại thường ở mức đó.
Vì vậy IPNI khuyên không để nhiều DAP đậm đặc ngay vùng hạt nảy mầm. Bón lót thì rải đều, trộn vào đất; bón theo hàng thì rạch cách hàng hạt.
MAP an toàn hơn: theo IPNI, có thể đặt MAP gần hạt mà không phải lo ngộ độc amoniac.
Khuyến nông Đại học Bang Bắc Dakota (NDSU) cũng viết: với cải dầu trên đất nhẹ, nếu bón lân chung với hạt thì MAP là lựa chọn tốt hơn, vì phần đạm của nó ít làm hại hạt hơn DAP.
Đất chua, đất kiềm nên chọn loại nào?
Đất kiềm, đất trung tính, đất có vôi: nên ưu tiên MAP. IPNI cho biết vùng chua quanh hạt MAP khiến nó đặc biệt hợp với đất trung tính và kiềm. Đây cũng là loại đất mà DAP dễ sinh amoniac hại mầm.
Đất chua: dùng DAP hay MAP đều được. Nguy cơ amoniac của DAP ở đất chua thấp hơn đất kiềm, nhưng vẫn không nên bón sát hạt.
Về năng suất: theo IPNI, phần lớn thí nghiệm đồng ruộng so DAP với MAP chỉ thấy khác biệt nhỏ hoặc không có, nếu bón đúng cách. Vì vậy cứ chọn theo đất, cách bón và giá mỗi ký lân.
Cách bón cho đúng
Bón lót và bón theo hàng
Rải đều rồi cày xới trộn vào đất trước khi gieo trồng là cách bón lót phổ biến (IPNI).
Bón theo hàng, theo rạch dưới mặt đất gần vùng rễ giúp lân ít bị đất giữ chặt hơn so với rải tung trên mặt. Amoni đi kèm photphat còn giúp rễ hút lân tốt hơn (IPNI).
Tính lượng theo lân cần bón: muốn có 1 kg lân P2O5 cần khoảng 2,2 kg DAP hoặc 1,9 kg MAP. Lượng DAP đó mang theo khoảng 0,4 kg đạm, còn MAP chỉ khoảng 0,2 kg. Bà con nhớ trừ phần đạm này khi tính lượng phân đạm.
Pha tưới, phun lá
Phân hạt bón gốc thường làm từ axit kém tinh khiết, có tạp chất sắt, nhôm (IPNI), pha nước dễ còn cặn, không hợp tưới nhỏ giọt.
Muốn pha tưới hay phun lá, IPNI chỉ rõ phải dùng MAP tinh khiết (thường 61% lân), tan thành dung dịch trong. Dạng tinh thể như MAP 12-61 hoặc DAP 21-53 dùng cho việc này; lượng pha theo hướng dẫn trên bao bì.
Không pha MAP chung bồn với phân chứa canxi hoặc magie (IPNI), vì canxi kết hợp với lân thành chất khó tan.
Lưu ý khi trộn với vôi và phân khác
Không trộn DAP, MAP với vôi, xỉ lò hay bột phân lân quặng: FAO cho biết trộn phân chứa amoni với các chất này sẽ làm bay amoniac, mất đạm. Bón vôi và bón phân nên tách thành hai lần riêng.
Không trộn với phân chứa canxi như canxi nitrat: canxi biến lân dễ tan thành dạng cây khó hút (FAO).
Tránh trộn DAP, MAP với super lân. Phân đã trộn nên rải ngay, để lâu dễ hút ẩm, đóng cục (FAO).
Đừng nhầm "lân cao" là cứ bón nhiều
Con số 46 hay 52 chỉ cho biết trong bao có bao nhiêu lân, không phải lượng cây cần.
Bón lân quá tay, nhất là khi đất có pH trên 6,5, có thể làm cây thiếu kẽm, thiếu sắt (Khuyến nông Alabama). Thiếu kẽm: lá non nhỏ lại, có sọc vàng giữa các gân. Thiếu sắt: lá non vàng, gân vẫn còn xanh.
Khuyến nông Alabama cho rằng cách tốt nhất là phân tích đất; đất đã dư lân thì chuyển sang phân ít hoặc không có lân.
Tóm lại
DAP nhiều đạm hơn, tan ra hơi kiềm, đặt sát hạt dễ hại mầm. MAP nhiều lân hơn, tan ra chua, an toàn hơn gần hạt và hợp đất kiềm. Bón đúng thì hai loại cho kết quả gần như nhau. Đừng trộn với vôi, đừng pha chung canxi, và bón lân theo nhu cầu của đất.
Bà con cần tư vấn thêm về cách chọn và bón phân lân, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: IPNI – Nutrient Source Specifics No. 17: Diammonium Phosphate; IPNI – Nutrient Source Specifics No. 9: Monoammonium Phosphate; FAO và IFA – Fertilizers and their use: A pocket guide for extension officers (2000); NDSU Extension – Fertilizing Canola and Mustard (SF1122, D.W. Franzen); Alabama Cooperative Extension System – Excessive Phosphorus in Garden Soils (ANR-0479).
Ảnh minh họa: Suyash Dwivedi, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).