Hành tây có bộ rễ cạn, ít nhánh. Phân rải trên mặt luống dễ bị nước cuốn đi trước khi rễ kịp hút. Tưới nhỏ giọt kèm phân (fertigation) đưa đạm, kali vào đúng vùng rễ, chia nhỏ nhiều lần, cây ăn tới đâu cho tới đó.

Bài này gom số liệu của Viện Nghiên cứu Hành Tỏi Ấn Độ (ICAR–DOGR), khuyến nông Texas A&M (Mỹ) và tài liệu PNW 546 của ba trường Oregon State, Washington State, Idaho, rồi quy đổi ra số ký phân cho 1 ha và 1.000 m².

Hành tây ăn phân mạnh nhất lúc nào?

  • Từ lúc mọc đến khi bắt đầu xuống củ, cây hút rất ít.

  • Từ lúc tạo củ, cây hút nhanh dần suốt thời gian củ lớn; cao điểm khoảng 2,2–3,4 kg đạm/ha mỗi ngày (PNW 546). Kali được hút gần bằng đạm.

  • Vì vậy PNW 546 khuyên bón lót ít đạm, dồn phần lớn đạm vào ngay trước và trong lúc củ lớn.

Tổng lượng phân cho 1 ha: các nguồn nói gì?

  • ICAR–DOGR, hành vụ khô lạnh và cuối vụ mưa, năng suất mục tiêu 40–50 tấn/ha: 110 kg N – 40 kg P2O5 – 60 kg K2O/ha. Lưu huỳnh bón lót 15 kg S/ha nếu đất đã có trên 25 kg S/ha, đất nghèo hơn thì 30 kg.

  • Texas A&M: mức chung 120–80–80 pound/mẫu Anh, khoảng 135–90–90 kg/ha; đạm dao động 78–168 kg/ha tùy phân tích đất, chia 22 kg trước trồng rồi 28–45 kg mỗi 3 tuần, ngưng trước khi củ chín 40 ngày.

  • PNW 546: phải trừ đạm sẵn có trong đất, nước tưới; có thí nghiệm bón thúc trên khoảng 180 kg N/ha lại làm giảm năng suất.

Dưới đây lấy mức của DOGR làm khung, vì viện này xây dựng cho hành ngày ngắn ở vùng nhiệt đới.

Lịch phân cho 1 ha theo DOGR, quy đổi ra phân hòa tan

Với nhỏ giọt, DOGR khuyên bón lót 40 N – 40 P2O5 – 60 K2O, phần đạm còn lại 70 kg chia 7 lần qua ống. Số trong ngoặc là cho 1.000 m².

Bón lót trước khi trồng

  • MAP 12-61: 40 ÷ 0,61 ≈ 66 kg (6,6 kg), mang theo khoảng 8 kg N.

  • Kali sunfat (52% K2O, 18% S): 60 ÷ 0,52 ≈ 115 kg (11,5 kg), kèm khoảng 21 kg lưu huỳnh, đủ mức 15 kg S.

  • Urê (46% N) bù đạm còn thiếu: (40 − 8) ÷ 0,46 ≈ 70 kg (7 kg).

  • Đất nghèo lưu huỳnh cần 30 kg S: thêm khoảng 70 kg magie sunfat ngậm 7 nước (13% S), tức 7 kg cho 1.000 m².

7 lần tưới đạm qua ống

Mỗi lần 70 ÷ 7 = 10 kg N/ha, tương đương 10 ÷ 0,46 ≈ 21,7 kg urê/ha (khoảng 2,2 kg cho 1.000 m²).

DOGR không ghi khoảng cách giữa các lần. Gợi ý của bài viết, không phải số của viện: mỗi tuần một lần, bắt đầu khoảng 15 ngày sau trồng (mốc thúc đạm đầu trong thí nghiệm DOGR năm 2022), xong trước khi củ chín 40 ngày như Texas A&M khuyên. Hai lần đầu có thể tưới nhẹ, dồn nhiều hơn vào lúc bắt đầu xuống củ, tổng vẫn 70 kg N.

Thay một phần urê bằng canxi nitrat hoặc kali nitrat

Theo PNW 546, amoni nitrat, amoni sunfat, canxi nitrat và UAN bón trong vụ cho năng suất, chất lượng hành như nhau.

  • Canxi nitrat (15,5% N; 26% CaO): 10 kg N cần 10 ÷ 0,155 ≈ 64,5 kg (6,5 kg), kèm khoảng 17 kg CaO. Dùng một nửa: 32 kg canxi nitrat + 11 kg urê mỗi lần.

  • Kali nitrat (13% N; 46% K2O): 21,7 kg cho 10 kg K2O và 2,8 kg N. Đất cát giữ kali kém có thể chuyển một phần kali sang tưới (PNW 546), nhớ bớt kali sunfat bón lót và urê tương ứng.

Nước tưới và lúc dừng

  • DOGR tưới nhỏ giọt theo 100% lượng bốc hơi đo bằng chảo; so với tưới tràn, củ thương phẩm tăng 15–25%, tiết kiệm 35–40% nước. Mỗi luống rộng 120 cm đặt hai dây 16 mm.

  • Ngưng tưới 10–15 ngày trước thu hoạch, khi lá bắt đầu đổ ngọn (DOGR, Texas A&M).

  • Đạm và nước dư làm củ chín muộn, dễ thối khi cất trữ (Texas A&M).

Lưu ý khi pha

  • Thứ tự pha: cho nước sạch vào thùng trước, rồi đổ từng loại phân, khuấy tan hết mới cho loại kế. Bộ Nông nghiệp bang Victoria (Úc) khuyên khoảng 100 kg phân trong 500 lít nước, nên 22 kg urê cần ít nhất chừng 110 lít.

  • Không để canxi nitrat chung thùng đậm đặc với MAP, DAP, axit photphoric, kali sunfat hay magie sunfat: canxi gặp lân tạo canxi photphat, gặp sunfat tạo thạch cao, đều đóng cặn làm tắc lọc và béc (UF/IFAS, Victoria). Dùng hai thùng riêng hoặc châm ở hai lần tưới khác nhau.

  • Xả rửa: bơm phân đặt sau bộ lọc; châm phân khoảng giữa đến cuối lần tưới, chừa thời gian chạy nước sạch đẩy hết phân khỏi ống, nhất là giữa lần châm canxi và lần châm lân, sunfat.

  • Thử trước: pha đúng tỉ lệ trong lọ, lắc đều, để 24 giờ; vẩn đục, lắng cặn thì không châm. Lần đầu làm thử vài luống, theo dõi vài ngày rồi mới làm cả ruộng.

  • Pha axit hạ pH nước thì luôn đổ axit vào nước, không đổ nước vào axit (UF/IFAS).

Tóm lại

Theo ICAR–DOGR, 1 ha hành cần khoảng 110 N – 40 P2O5 – 60 K2O cùng 15–30 kg lưu huỳnh: bón lót 66 kg MAP, 115 kg kali sunfat, 70 kg urê; 70 kg N còn lại chia 7 lần tưới, mỗi lần chừng 22 kg urê. Đây là khung tham khảo; bà con nên phân tích đất và đừng bón dư đạm.

Bà con cần tư vấn cách pha phân tưới nhỏ giọt cho hành, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: ICAR–DOGR (Ấn Độ) – Onion: Nutrient management, Irrigation; Annual Report 2022. Oregon State University, Washington State University, University of Idaho – Nutrient Management for Onions in the Pacific Northwest (PNW 546). Texas AgriLife Extension (Texas A&M) – Onion. UF/IFAS Extension – How to Reduce Clogging Problems in Fertigation (HS1202). Agriculture Victoria (Úc) – Fertigation.

Ảnh minh họa: Lizzy Shaanan (PikiWiki – Israel free image collection project), Wikimedia Commons (CC BY 2.5).