Chuối ăn rất khỏe, nhất là đạm và kali. Bón rải gốc thì mưa làm trôi, nắng làm phân nằm khô trên mặt đất. Tưới nhỏ giọt kèm phân (fertigation) chia nhỏ phân theo từng tuần, đưa thẳng xuống vùng rễ. Bài này tổng hợp lịch tưới phân của Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU, Ấn Độ) cho giống Grand Naine (nhóm Cavendish), quy đổi ra gam cho mỗi cây để bà con dễ áp dụng.

Tưới kèm phân cho chuối có lợi gì?

Thí nghiệm ba năm (2008–2011) của Đại học Nông nghiệp Mahatma Phule (Ấn Độ) trên chuối Grand Naine, đăng tạp chí Indian Journal of Agricultural Sciences năm 2014, cho thấy: tưới phân tan 100% liều, chia theo giai đoạn sinh trưởng đạt 82,94 tấn/ha, trong khi tưới rãnh, bón phân thường chỉ đạt 57,40 tấn/ha; mức 80% liều đạt 79 tấn/ha, không khác biệt có ý nghĩa với mức 100%. Chia phân theo nhu cầu từng giai đoạn cho cây hút dinh dưỡng tốt hơn chia đều. Cái chính là đúng lúc, đúng lượng, không phải bón thật nhiều.

Tổng lượng phân cho mỗi cây cả vụ

  • TNAU khuyến cáo tưới phân tan với tổng khoảng 200 g N, 30–35 g P2O5 và 300 g K2O cho mỗi cây (trang lịch bón phân ghi 200:30:300; Hệ chuyên gia chuối của TNAU ghi 200:35:300 cho Grand Naine), kèm khoảng 25 lít nước/cây/ngày.

  • Bảng tính của TNAU dùng khoảng cách 1,5 × 2,1 m, tức 3.175 cây/ha.

  • Lân bón lót bằng super lân vào tháng thứ 2 sau trồng: 695 kg/ha. Quy đổi: 695.000 g chia 3.175 cây ≈ 219 g super lân/cây.

  • Phân chỉ bắt đầu bơm từ tuần thứ 9 sau trồng và ngưng 10–15 ngày trước khi thu.

Lịch tưới phân theo 4 giai đoạn (giống Grand Naine)

Số kg/ha lấy đúng bảng của TNAU cho 3.175 cây/ha. Cách quy đổi ra gam/cây/tuần: kg/ha nhân 1.000 ra gam, chia 3.175 cây, chia tiếp số tuần của giai đoạn. Phân dùng: kali nitrat (13-0-45), urê (46% N), kali sunfat (0-0-50); bơm mỗi tuần một lần.

Giai đoạn 1 – bén rễ, hồi sức (tuần 9–18, 10 tuần)

  • Kali nitrat 423,13 kg/ha + urê 294,04 kg/ha cho cả giai đoạn.

  • Quy đổi: khoảng 13,3 g kali nitrat + 9,3 g urê/cây/tuần.

Giai đoạn 2 – phát triển thân lá (tuần 19–30, 12 tuần)

  • Kali nitrat 846,26 kg/ha + urê 450,50 kg/ha.

  • Quy đổi: khoảng 22,2 g kali nitrat + 11,8 g urê/cây/tuần.

Giai đoạn 3 – trổ buồng (tuần 31–42, 12 tuần)

  • Urê 275,60 kg/ha + kali sunfat 609,92 kg/ha.

  • Quy đổi: khoảng 7,2 g urê + 16,0 g kali sunfat/cây/tuần.

Giai đoạn 4 – nuôi buồng đến thu (tuần 43–45, 3 tuần)

  • Chỉ còn kali sunfat 152,48 kg/ha.

  • Quy đổi: khoảng 16,0 g kali sunfat/cây/tuần.

Ví dụ vườn 1.000 cây ở giai đoạn 2: mỗi tuần cần 22,2 kg kali nitrat và 11,8 kg urê. Cộng bốn giai đoạn ra đúng khoảng 200 g N và 300 g K2O mỗi cây. Nếu dùng kali sunfat (SOP) loại 52% K2O thì giảm nhẹ, khoảng 15,4 g thay cho 16,0 g (tính bằng 16,0 × 50 ÷ 52).

Phương án tiết kiệm bằng urê và kali clorua

Để giảm chi phí, TNAU cho phép tưới bằng urê và kali clorua (MOP) ở mức 50% liều khuyến cáo, lân vẫn bón lót. Hệ chuyên gia chuối của TNAU cũng đưa một lịch chung bằng hai loại phân này (gam/cây/lần bơm):

  • Tuần 9–18: 15 g urê + 8 g kali clorua.

  • Tuần 19–30: 10 g urê + 10 g kali clorua.

  • Tuần 31–40: 7 g urê + 12 g kali clorua.

  • Tuần 41–46: chỉ 10 g kali clorua.

Lưu ý: nước tưới có clorua trên 300 ppm thì TNAU khuyên tránh dùng kali clorua.

Lượng nước tưới tham khảo

Theo TNAU (lít/cây/ngày): tuần 1–4 khoảng 4 lít; tuần 5–9: 8–10 lít; tuần 10–19: 12 lít; tuần 20–32: 16–20 lít; từ tuần 33 trở đi: 20 lít trở lên. Mưa, đất ẩm thì giảm; nắng gắt, đất cát thì tăng.

Lưu ý khi pha

  • Pha riêng từng loại: hòa từng loại vào xô nước, khuấy tan hết rồi mới đổ vào bồn đã có nước. Dùng axit hạ pH thì luôn đổ axit vào nước, không làm ngược lại.

  • Không trộn canxi với lân hoặc sunfat: canxi nitrat gặp MAP, DAP sẽ tạo canxi photphat; gặp kali sunfat, magie sunfat sẽ tạo thạch cao. Cả hai đều không tan, đóng cặn nghẹt béc. Cần bón canxi thì dùng bồn riêng hoặc bơm vào ngày khác, xong xả ống thật sạch.

  • Coi chừng nước cứng: nước giếng nhiều canxi, magie dễ kết tủa với lân. Đại học Florida khuyên không bơm axit photphoric khi nước có trên 50 ppm canxi.

  • Thử bằng lọ: cho một ít dung dịch phân vào lọ nước tưới đúng tỉ lệ pha loãng như ngoài vườn, để khoảng 2 giờ. Thấy đục, váng như sữa là không được bơm.

  • Xả nước sạch: chạy nước sạch cho ống đầy, đủ áp rồi mới bơm phân; bơm xong chạy tiếp nước sạch đẩy hết phân khỏi ống, béc. Vệ sinh lõi lọc thường xuyên.

  • Thử trên vài cây trước: lần đầu đổi công thức, chạy thử một hai hàng trong 1–2 tuần, thấy lá non, rễ ổn rồi mới làm cả vườn.

  • Tính lại theo vườn mình: lịch trên tính cho 3.175 cây/ha; trồng thưa hay dày hơn thì tính theo gam/cây. Đất, giống khác thì nên phân tích đất để điều chỉnh.

Tóm lại

Lịch TNAU cho chuối Grand Naine: đầu vụ nặng đạm, giữa vụ đạm lẫn kali, cuối vụ chủ yếu kali; tổng khoảng 200 g N và 300 g K2O mỗi cây, bơm hằng tuần từ tuần 9. Pha đúng thứ tự, tách riêng canxi, xả ống sạch là giữ được cả cây lẫn hệ thống tưới.

Bà con cần tư vấn tính lượng phân tưới nhỏ giọt cho vườn chuối của mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: TNAU Agritech Portal (Tamil Nadu Agricultural University) – Horticulture: Banana, Fertilizer Schedule; TNAU – Banana Expert System: Irrigation Management, Fertigation; Mahatma Phule Krishi Vidyapeeth – Pawar và cộng sự (2014), Fertigation scheduling for banana, Indian Journal of Agricultural Sciences 84(10); UF/IFAS Extension – How to Reduce Clogging Problems in Fertigation (HS1202); UF/IFAS Extension – Five Rs of Nutrient Stewardship for Fertigation (HS1386).

Ảnh minh họa: ABHIJEET, Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0).