Cà phê vối kinh doanh "ăn phân" khỏe, nhưng bón nhiều chưa chắc thu nhiều. Đại học Southern Queensland (Úc) theo dõi 558 hộ trồng cà phê vối ở Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng suốt 10 năm (2008–2017): phần đông bón khoảng 350 đến hơn 500 kg đạm nguyên chất (N)/ha/năm, vậy mà năng suất gần như không tăng theo lượng phân. Bài này giới thiệu cách tính phân theo năng suất và phân tích đất, dựa trên khuyến cáo cho cà phê vối (Brazil gọi là conilon) của Embrapa, Tập đoàn Nghiên cứu Nông nghiệp Brazil.
Mỗi tấn cà phê nhân lấy đi bao nhiêu dinh dưỡng?
Theo tổng hợp trong bài báo của nhóm Byrareddy (tạp chí Agronomy, 2019), mỗi tấn cà phê nhân mang ra khỏi vườn khoảng 33–63 kg N, 2–11 kg P2O5 và 47–67 kg K2O, tùy đất và cách bón. Đạm và kali là hai "món chính", lân cây lấy đi ít hơn nhiều.
Bảng lượng phân theo năng suất (Embrapa)
Embrapa chia lượng phân cho vườn đang cho trái (sau 36 tháng trồng) theo năng suất mong muốn, tính bằng bao 60 kg nhân; chúng tôi quy ra tấn nhân/ha. Đạm cả năm:
Dưới 1,2 tấn: 200 kg N.
1,26–1,8 tấn: 260 kg N.
1,86–3 tấn: 320 kg N.
3,06–4,2 tấn: 380 kg N.
Trên 4,2 tấn: 440 kg N.
Kali và lân tùy phân tích đất. Ở mức 3,06–4,2 tấn: kali đất dưới 60 mg/dm³ bón 350 kg K2O; 60–120 mg/dm³ bón 280 kg; 121–200 mg/dm³ bón 210 kg; trên 200 mg/dm³ còn 80 kg. Lân: đất rất thấp 75 kg P2O5, thấp 60 kg, trung bình 20 kg, cao thì khỏi bón. Đất thiếu lưu huỳnh bón tối thiểu 50 kg S/ha. Bảng dùng phương pháp phân tích Mehlich-1; khi gửi mẫu đất, bà con nhờ phòng phân tích cho biết kali, lân ở mức thấp, trung bình hay cao.
Khảo sát của Úc cho thấy hộ bón trên 384 kg N không đạt năng suất hơn hộ bón ít hơn tới một nửa. Vì vậy với vườn 3,5–4 tấn, 380 kg N nên coi là mức trần.
Ví dụ vườn 3,5–4 tấn nhân/ha
Giả sử đất kali trung bình (60–120 mg/dm³), lân thấp, thiếu lưu huỳnh: cả năm cần 380 kg N, 280 kg K2O, 60 kg P2O5, khoảng 50 kg S. Chúng tôi quy ra (SA 21% N, 24% S; urê 46% N; super lân 16% P2O5; KCl 60% K2O): 200 kg SA, 735 kg urê, 375 kg super lân, 467 kg KCl; riêng SA cho 42 kg N và khoảng 48 kg lưu huỳnh.
Chia đợt theo mùa mưa
Embrapa chia đạm và kali ít nhất 3 đợt: 40% đầu mùa mưa, hai đợt sau mỗi đợt 30%, cách nhau 50–60 ngày; lân chia đôi bón cùng hai đợt đầu. Ví dụ trên thành:
Đợt 1, đầu mùa mưa (tháng 5–6): 200 kg SA, 239 kg urê, 187 kg KCl, 188 kg super lân.
Đợt 2, sau đợt 1 khoảng 50–60 ngày: 248 kg urê, 140 kg KCl, 188 kg super lân.
Đợt 3, sau đợt 2 khoảng 50–60 ngày: 248 kg urê, 140 kg KCl.
Mỗi gốc (1.100 cây/ha): đợt 1 khoảng 182 g SA, 217 g urê, 170 g KCl, 171 g super lân; đợt 2 khoảng 225 g urê, 127 g KCl, 171 g super lân; đợt 3 khoảng 225 g urê, 127 g KCl.
Vườn có tưới thì sao?
Embrapa lưu ý vườn có tưới nên tăng số đợt bón, bắt đầu từ lúc ra hoa. Khảo sát của Úc ghi nhận bà con Tây Nguyên thường bón 4 lần: ra hoa (tháng 3–4), đầu mùa mưa (tháng 6), nuôi quả (tháng 8–9), cuối mùa (tháng 10–11). Đại học Nông nghiệp Kerala (Ấn Độ) cũng xếp một lần bón trước ra hoa cho cà phê vối từ 1 tấn/ha. Thêm đợt tưới hoa thì tách bớt từ tổng lượng cả năm, không cộng thêm.
Phân hữu cơ, vôi và vi lượng
Phân hữu cơ: khảo sát của Úc ghi nhận bà con ủ vỏ cà phê, cành lá, phân chuồng với chế phẩm vi sinh, bón 8–20 tấn/ha, xen kẽ mỗi năm một nửa vườn. Phân hóa học bón nhiều lâu năm làm đất chua; phân hữu cơ giúp đất tơi, giữ nước, cây dùng phân hiệu quả hơn.
Vôi: theo Embrapa, lượng vôi tính từ phân tích đất, rải thành dải dưới tán; cần trên 1,5 tấn/ha thì chia hai lần cách ít nhất 6 tháng. Đất nhiều canxi so với magie thì dùng vôi dolomit.
Vi lượng: Embrapa bón vào đất một lần đầu mùa mưa theo phân tích đất, ví dụ đất nghèo kẽm 3 kg Zn/ha, nghèo bo 2 kg B/ha. Có thể dùng kẽm sulfate và Solubor, quy ra lượng sản phẩm theo hàm lượng ghi trên bao bì.
Lưu ý khi pha và bón
Vị trí: rải đều trên dải đất từ mép tán vào gần gốc, xới nhẹ lấp lại; bón khi đất đủ ẩm.
Vôi trước, phân sau: Embrapa khuyên rải vôi trước đợt bón phân ít nhất 60 ngày; không trộn vôi với urê hay SA vì dễ bay hơi đạm.
Thứ tự trộn: urê với KCl trộn ngay trước khi bón, bón hết trong ngày vì dễ hút ẩm, chảy nước; super lân nên bón riêng hoặc trộn ngay lúc rải.
Thử trước: đổi công thức thì làm trên vài hàng, theo dõi rồi mới áp dụng cả vườn.
Phân tích đất: Embrapa khuyên lấy mẫu tầng 0–20 cm hằng năm, 2 năm một lần lấy thêm tầng 20–40 cm.
Tóm lại
Vườn 3,5–4 tấn nhân/ha theo bảng Embrapa cần khoảng 380 kg N, 80–350 kg K2O, 0–75 kg P2O5 mỗi năm tùy đất, chia ít nhất 3 đợt mùa mưa (40-30-30), vườn tưới tách thêm đợt ra hoa. Bón quá tay không tăng năng suất mà còn làm chua đất.
Bà con cần tư vấn thêm, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: Embrapa (Brazil), "Recomendações de calagem e adubação para o estado do Pará", chương Café Conilon (2020); Byrareddy V. và cs. (Đại học Southern Queensland), "Sustainable Production of Robusta Coffee under a Changing Climate", Agronomy 9 (2019); Đại học Nông nghiệp Kerala (Ấn Độ), Coffee – Manuring.
Ảnh minh họa: P. Hughes, Wikimedia Commons (CC BY 4.0).