Ngày 30/10/2026, Cơ quan Thống kê Nông nghiệp Quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA NASS) công bố báo cáo Agricultural Prices với số liệu tháng 9/2026. Báo cáo đo hai thứ: giá nông dân Mỹ bán được và giá họ phải trả cho vật tư, dịch vụ. Kỳ này, ngô, đậu tương, lúa mì được giá hơn năm trước, nhưng dầu diesel và phân đạm còn tăng nhanh hơn, khiến phần lời của nhà nông bị bóp lại.

Giá bán và giá mua: khoảng cách đang nới rộng

NASS dùng chỉ số giá lấy năm 2011 làm gốc (năm 2011 = 100).

  • Chỉ số giá nông dân bán được tháng 9/2026 là 133,2, giảm 1,7% so với tháng 8 và chỉ cao hơn 0,5% so với tháng 9/2025.

  • Chỉ số giá nông dân phải trả (vật tư, dịch vụ, lãi vay, thuế, tiền công) là 160,5, tăng 0,4% so với tháng 8 và tăng 5,2% so với cùng kỳ.

  • Tỷ lệ giá bán trên giá mua giảm từ 87 (tháng 9/2025) xuống 85 (tháng 8/2026) và còn 83 (tháng 9/2026).

Nói kiểu nhà nông: cùng một bao hàng bán ra, năm nay đổi được ít vật tư hơn năm ngoái.

Chi phí đầu vào: nhiên liệu tăng mạnh nhất

  • Nhiên liệu: chỉ số 133,6, tăng 14% chỉ trong một tháng và tăng 54% so với tháng 9/2025. Riêng dầu diesel đi từ 87,0 lên 146,0 sau một năm; theo báo cáo kỳ trước (29/9/2026), chỉ số diesel tháng 7 mới ở 115,0.

  • Phân bón: chỉ số 133,7, giảm nhẹ 0,3% so với tháng 8 nhưng cao hơn 10% so với một năm trước. Từ tháng 8 sang tháng 9, phân đạm và phân hỗn hợp rẻ đi chút ít, còn kali và lân nhích lên.

  • Phân đạm tăng mạnh nhất trong nhóm phân bón: chỉ số từ 118,8 lên 143,4 sau một năm. Kali và lân từ 131,3 lên 136,5; phân hỗn hợp từ 119,8 lên 123,6.

  • Thuốc bảo vệ thực vật: chỉ số 109,3, giảm 7,0% so với năm trước.

  • Thức ăn chăn nuôi: chỉ số 118,0, tăng 11% so với năm trước.

Giá nông sản: hạt tăng, lúa và chăn nuôi giảm

Chỉ số giá cây trồng tháng 9/2026 là 117,5, tăng 15% so với cùng kỳ. Giá nông dân Mỹ nhận được trong tháng 9/2026:

  • Ngô: 4,81 USD/giạ (bushel), cao hơn 81 cent so với một năm trước.

  • Đậu tương: 12,20 USD/giạ, cao hơn 2,27 USD.

  • Lúa mì: 6,30 USD/giạ, cao hơn 1,54 USD.

  • Lúa (thóc): 12,70 USD/cwt (khoảng 45,4 kg), thấp hơn cùng kỳ 30 cent, là một trong số ít loại hạt giảm giá.

Chỉ số giá chăn nuôi là 147,0, giảm 10% so với năm trước: heo hơi còn 64,80 USD/cwt, thấp hơn cùng kỳ 12,40 USD; bò thịt 223 USD/cwt, thấp hơn 15 USD.

Riêng ngành trồng trọt, chỉ số chi phí tăng từ 145,8 lên 153,4, khoảng 5% sau một năm, thấp hơn mức tăng 15% của giá cây trồng. Nghĩa là người trồng ngô, đậu tương, lúa mì ở Mỹ đang đỡ hơn người chăn nuôi, còn người trồng lúa vừa chịu giá thóc giảm vừa chịu chi phí tăng.

Trước đó, ngày 03/9/2026, Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế của USDA (ERS) dự báo thu nhập ròng của nông nghiệp Mỹ năm 2026 đạt 158,4 tỷ USD, giảm 2,6% so với năm 2025.

Bà con mình nên để ý gì

  • Đây là số liệu tại Mỹ, không phải giá vật tư ở chợ quê mình. Nhưng dầu và phân đạm là hàng mua bán toàn cầu, nên xu hướng này đáng theo dõi khi tính vụ tới.

  • Ghi chép chi phí từng vụ: phân, thuốc, dầu chạy máy, công thuê, để biết khoản nào đang ăn mòn tiền lời.

  • Bón phân theo nhu cầu của đất và cây, chia nhiều lần thay vì bón dồn, để cây hút được nhiều, ít thất thoát. Giá đạm cao thì bón dư là tốn tiền thật.

  • Gom việc để bớt số chuyến chạy máy bơm, máy cày; bảo dưỡng máy định kỳ cho đỡ hao dầu.

Lưu ý

Chỉ số của NASS đo mức thay đổi giá so với năm gốc, không phải giá bán lẻ cụ thể. Số liệu tháng gần nhất là sơ bộ và có thể được sửa: chỉ số phân bón tháng 8/2026 công bố lần đầu là 133,2, đến báo cáo ngày 30/10 được sửa thành 134,1.

Tóm lại

Theo USDA NASS, chi phí của nông dân Mỹ tháng 9/2026 tăng 5,2% so với năm trước, trong đó nhiên liệu tăng 54% và phân bón tăng 10%, còn giá bán chung chỉ nhích 0,5%. Với bà con mình, bài học là tính kỹ chi phí, bón phân đúng nhu cầu và chạy máy tiết kiệm.

Bà con cần tư vấn thêm về cách bón phân tiết kiệm, hiệu quả cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: USDA NASS – Agricultural Prices (công bố 30/10/2026); USDA NASS – Agricultural Prices (công bố 29/9/2026); USDA ERS – Highlights from the Farm Income Forecast (cập nhật 03/9/2026).