Nhiều bà con muốn mở tiệm vật tư nông nghiệp ở đầu xóm hỏi: bán phân bón có phải xin giấy chứng nhận, người đứng quầy có phải đi tập huấn không? Năm 2026 quy định này đổi tới ba lần; dưới đây là tóm tắt theo văn bản gốc.

Trước năm 2026: phải có giấy chứng nhận

Theo Điều 42 Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 (hiệu lực 01/01/2020), người buôn bán phân bón phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón do Sở Nông nghiệp cấp (trừ khi bán phân do chính mình sản xuất). Điều kiện cấp gồm: địa điểm giao dịch hợp pháp, rõ ràng; đủ giấy tờ truy xuất nguồn gốc phân; người trực tiếp bán được tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về phân bón, trừ người có bằng trung cấp trở lên các ngành trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, khoa học đất, nông học, hóa học, sinh học.

Mốc 1 – từ 01/01/2026: bỏ giấy chứng nhận

Luật số 146/2025/QH15 (thông qua 11/12/2025, hiệu lực 01/01/2026) viết lại Điều 42: không còn giấy chứng nhận, chỉ còn hai điều kiện là có địa điểm giao dịch hợp pháp, rõ ràng và người trực tiếp bán được tập huấn theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (vẫn miễn cho người có bằng trung cấp đúng ngành). Tiếp đó, Nghị định 33/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 bãi bỏ Điều 13 và Điều 15 Nghị định 84/2019/NĐ-CP về thẩm quyền, hồ sơ cấp giấy chứng nhận buôn bán.

Mốc 2 – từ 01/7/2026: tạm không áp dụng hai điều kiện

Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ về cắt giảm thủ tục, điều kiện kinh doanh thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tại mục IX phần A Phụ lục I, ghi: không thực hiện điều kiện buôn bán phân bón quy định tại Điều 42 Luật Trồng trọt. Mục này có hiệu lực từ 01/7/2026 đến hết 28/02/2027; trong thời gian đó, nghị quyết được áp dụng nếu khác với luật, nghị định.

Mốc 3 – từ 01/01/2027: bãi bỏ hẳn Điều 42

Luật số 21/2026/QH16 (thông qua 24/8/2026, hiệu lực 01/01/2027) bãi bỏ Điều 42 và điểm a khoản 2 Điều 51 (nghĩa vụ duy trì điều kiện buôn bán). Khoản 3 Điều 9 (hành vi bị cấm) được sửa lại: phần về phân bón chỉ còn cấm sản xuất phân bón không đủ điều kiện hoặc chưa có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, không còn nhắc tới buôn bán.

Nói gọn: hiện nay mở cửa hàng phân bón không phải xin giấy chứng nhận, điều kiện địa điểm và tập huấn đang tạm không áp dụng, và sẽ bị bỏ hẳn từ 01/01/2027. Riêng sản xuất phân bón vẫn phải có giấy chứng nhận.

Không cần giấy phép, cửa hàng vẫn phải làm gì?

  • Khoản 2 Điều 9 Luật Trồng trọt cấm buôn bán phân bón chưa được công nhận lưu hành tại Việt Nam; khoản 4 Điều 9 cấm buôn bán phân bón giả, hết hạn, không rõ nguồn gốc.

  • Khoản 2 Điều 51: bảo quản phân nơi khô ráo, không để lẫn với hàng khác làm ảnh hưởng chất lượng; kiểm tra nguồn gốc, nhãn, dấu hợp chuẩn, hợp quy; cung cấp chứng từ truy xuất nguồn gốc; hướng dẫn sử dụng đúng nhãn; bồi thường thiệt hại theo quy định; chấp hành kiểm tra.

  • Luật không có điều kiện riêng về kho chứa cho cửa hàng phân bón; phần liên quan là nghĩa vụ tuân thủ quy định về phòng cháy chữa cháy, hóa chất, lao động, môi trường (cũng tại Điều 51).

Mức phạt với cửa hàng phân bón hiện nay

Từ 05/8/2026 áp dụng Nghị định 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 (thay Nghị định 31/2023/NĐ-CP). Điều 23 (vi phạm về buôn bán phân bón) không quy định hành vi "buôn bán không đủ điều kiện" hay "không có giấy chứng nhận". Mức phạt với cá nhân:

  • Buôn bán phân bón khi đang bị đình chỉ hoạt động buôn bán: 10–20 triệu đồng.

  • Buôn bán phân bón chưa được công nhận lưu hành, theo giá trị lô hàng: dưới 50 triệu đồng phạt 10–20 triệu; 50 đến dưới 100 triệu phạt 20–30 triệu; 100 đến dưới 150 triệu phạt 30–40 triệu; 150 đến dưới 200 triệu phạt 40–50 triệu (các mức này áp dụng khi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự); từ 200 triệu trở lên phạt 50–60 triệu khi cơ quan tố tụng chuyển sang xử phạt hành chính.

  • Với hành vi bán phân chưa được công nhận lưu hành còn bị đình chỉ buôn bán phân bón từ 01–03 tháng đến 12–15 tháng tùy mức, buộc tiêu hủy số phân đó và nộp lại số lợi bất hợp pháp.

Tổ chức vi phạm bị phạt gấp đôi cá nhân (khoản 3 Điều 5); hộ kinh doanh bị phạt như cá nhân. Với người dùng, Điều 28 phạt cảnh cáo khi dùng phân sai hướng dẫn trên nhãn và 500.000–1.000.000 đồng khi dùng phân không có nguồn gốc xuất xứ.

Lưu ý

  • Vi phạm đã xảy ra và kết thúc trước 05/8/2026 vẫn xử theo nghị định có hiệu lực lúc vi phạm.

  • Bà con mua phân nên lấy hóa đơn, xem nhãn có thành phần, hạn dùng, dấu hợp quy.

Tóm lại

Cửa hàng phân bón không còn phải xin giấy chứng nhận từ 01/01/2026, điều kiện địa điểm và tập huấn tạm ngừng từ 01/7/2026 và bị bãi bỏ từ 01/01/2027. Người bán vẫn phải bán phân đã được công nhận lưu hành, bảo quản đúng cách, giữ chứng từ, hướng dẫn đúng nhãn; bán phân chưa được công nhận có thể bị phạt tới 60 triệu đồng (tổ chức 120 triệu).

Bà con cần tư vấn thêm về cách chọn mua và sử dụng phân bón, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14; Luật số 146/2025/QH15; Luật số 21/2026/QH16; Nghị định 84/2019/NĐ-CP; Nghị định 33/2026/NĐ-CP; Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP; Nghị định 214/2026/NĐ-CP.

Bài viết tóm tắt để bà con dễ hiểu, không thay thế văn bản pháp luật. Thông tin cập nhật đến tháng 11/2026; khi cần áp dụng, bà con tra cứu văn bản gốc hoặc hỏi cơ quan nông nghiệp địa phương.

Ảnh minh họa: 皓月旗, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).