Bón lân năm nào cũng nhiều mà cây vẫn đói lân, vì phần lớn lân bị đất giữ chặt. Theo một tổng quan trên tạp chí Frontiers in Microbiology (Alori và cộng sự, 2017), lân chiếm khoảng 0,05% khối lượng đất nhưng chỉ chừng 0,1% lượng đó ở dạng cây hút được. Chế phẩm vi sinh vật phân giải lân được giới thiệu như cách “mở khóa” lượng lân đó. Vậy ngoài đồng chúng hiệu quả tới đâu?

Vi sinh vật phân giải lân là ai?

Đó là những vi sinh vật sống trong đất có khả năng làm tan các dạng lân khó tan. Tổng quan của Alori và cộng sự liệt kê:

  • Vi khuẩn: Bacillus, Pseudomonas, Rhizobium, Burkholderia, Enterobacter…

  • Nấm: Aspergillus, Penicillium, Trichoderma…

  • Xạ khuẩn: Streptomyces và một số chi khác.

Chúng làm tan lân bằng cách nào?

  • Tiết axit hữu cơ và ion H+: phổ biến nhất là axit gluconic, ngoài ra có citric, oxalic, lactic… Axit làm chua vùng đất quanh vi sinh và “giật” canxi, sắt, nhôm đang ôm lân, nhờ đó lân tan ra.

  • Tiết men phosphatase, phytase cắt lân ra khỏi chất hữu cơ. Điều này quan trọng vì lân hữu cơ có thể chiếm 30–50% tổng lân trong đất (Alori và cộng sự).

Trong phòng thí nghiệm khác ngoài đồng

Cách thử quen thuộc là cấy vi sinh lên đĩa thạch có trộn bột lân khó tan: chủng nào tạo vòng sáng quanh khuẩn lạc là có khả năng hòa tan lân. Nhưng nhóm của Bashan (Biology and Fertility of Soils, 2013) chỉ ra cách thử bằng tricanxi photphat rất “dễ dãi”: có nghiên cứu lọc ra cả nghìn chủng “tưởng là”, thử trên cây thì rất ít chủng thật sự cấp lân. Họ đề nghị thử theo loại đất: đất kiềm dùng lân gắn canxi, đất chua dùng lân gắn sắt, nhôm.

Bài đánh giá trên tạp chí New Phytologist (Raymond và cộng sự, 2021) còn nói thẳng hơn: phần lớn kết quả tốt đến từ thí nghiệm chậu, nhà lưới; ngoài đồng thì thường không thấy cây được thêm lân. Các tác giả cho rằng vi sinh hòa tan lân trước hết để nuôi chính nó, lân chỉ đến cây từ từ khi xác vi sinh phân hủy.

Phân tích gộp nói gì?

Schütz và cộng sự (Frontiers in Plant Science, 2018) gộp 171 nghiên cứu ngoài đồng về các loại phân vi sinh nói chung:

  • Trung bình năng suất tăng khoảng 16% so với không dùng; vùng khô hạn tăng nhiều nhất (khoảng 20%), vùng nhiệt đới khoảng 15%.

  • Nhóm phân giải lân cho kết quả tốt nhất khi lân dễ tiêu trong đất ở mức khoảng 25–35 kg/ha, không phải ở đất quá nghèo lân.

  • Ở mức lân thuận lợi nhất cho từng nhóm, các nhóm vi sinh khác tăng năng suất trên 40%, riêng nhóm phân giải lân thì không đạt mức đó.

  • Đất càng giàu chất hữu cơ thì nhóm phân giải lân càng kém hiệu quả, có thể vì vi sinh sẵn có trong đất quá mạnh, chủng mới khó chen vào.

  • Phối hợp vi khuẩn cố định đạm với vi sinh phân giải lân cho kết quả tốt hơn dùng riêng từng loại.

Các tác giả cũng lưu ý có thiên lệch xuất bản ở mức vừa phải. Nói gọn: có tác dụng nhưng không đều, phụ thuộc nhiều vào đất.

Khi nào đáng dùng?

  • Đất có lân ở mức trung bình, nhất là vùng khô hoặc nóng; đất vốn đã giàu chất hữu cơ thì ít hy vọng.

  • Dùng kèm phân hữu cơ hoai làm “nhà” và thức ăn cho vi sinh. Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu hướng dẫn trộn chế phẩm với phân chuồng hoai, có thể thêm phân lân đá, ủ qua đêm dưới bóng mát ở độ ẩm khoảng 50% rồi mới bón.

  • Không bỏ phân lân. Phần lân cây cần vẫn chủ yếu đến từ phân lân bón đủ lượng, ví dụ lân bón gốc thông thường hoặc dạng dễ tan như MAP 12-61 khi tưới. Vi sinh chỉ nên xem là phần hỗ trợ.

Cách dùng và bảo quản

Theo Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (liều lượng bà con theo hướng dẫn trên bao bì từng sản phẩm):

  • Trộn hạt giống: hòa chế phẩm với ít nước cháo nguội cho dính rồi áo lên hạt. Nếu hạt có xử lý thuốc thì xử lý thuốc trước, phủ vi sinh sau cùng.

  • Nhúng rễ cây con vào dịch vi sinh 5–10 phút trước khi cấy, trồng.

  • Bón đất: trộn với phân chuồng hoai khô, rải lúc làm đất hoặc theo hàng.

  • Bảo quản nơi mát, khô, tránh nắng và nóng, để xa bao phân hóa học và chai thuốc. Quá hạn thì bỏ vì vi sinh không còn tác dụng.

Lưu ý

  • Không trộn chung chế phẩm với thuốc trừ nấm, trừ sâu, trừ cỏ hay phân hóa học (Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu). Thuốc trị vi khuẩn càng phải tránh vì nó diệt luôn vi sinh có ích.

  • Chọn sản phẩm ghi rõ tên chủng, mật độ và hạn dùng.

  • Đừng vì dùng vi sinh mà cắt mạnh lân; nếu muốn giảm, hãy làm một ô thử cạnh ô bón bình thường để so sánh qua vài vụ.

Tóm lại

Vi sinh vật phân giải lân làm tan lân nhờ axit hữu cơ và men, điều này rõ trong phòng thí nghiệm. Ngoài đồng, hiệu quả thường nhỏ và thất thường, tùy đất, lượng lân và chất hữu cơ sẵn có. Dùng kèm phân hữu cơ, giữ đủ phân lân, bảo quản đúng và không pha với thuốc thì mới có cơ hội thấy lợi.

Bà con cần tư vấn thêm về bón lân cho cây, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Frontiers in Microbiology (2017), Alori, Glick và Babalola, “Microbial Phosphorus Solubilization and Its Potential for Use in Sustainable Agriculture”; Frontiers in Plant Science (2018), Schütz và cộng sự, “Improving Crop Yield and Nutrient Use Efficiency via Biofertilization – A Global Meta-analysis”; New Phytologist (2021), Raymond và cộng sự, “Phosphate-solubilising microorganisms for improved crop productivity: a critical assessment”; Biology and Fertility of Soils (2013), Bashan, Kamnev và de-Bashan, “Tricalcium phosphate is inappropriate as a universal selection factor for isolating and testing phosphate-solubilizing bacteria”; Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU Agritech Portal), “Biofertilizer Technology”.

Ảnh minh họa: Joydeep, Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0).