Ngoài urê và SA, ở châu Âu, châu Phi có một loại phân đạm hạt rất phổ biến tên là CAN, viết tắt của canxi amoni nitrat. Bao thường ghi “CAN 27” hoặc “27% N”. Bài này nói riêng về CAN: gồm những gì, khác urê, SA ra sao, hợp đất nào, bón và cất giữ thế nào.
CAN gồm những gì?
Nói gọn, CAN là amoni nitrat trộn bột đá vôi hoặc bột dolomit rồi tạo hạt. Theo Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), khoáng cacbonat được cho vào dung dịch amoni nitrat trước khi đông thành hạt. Khuyến nông Đại học Montana State (Mỹ) cho biết loại CAN 27% đạm có khoảng 20% là vôi.
Đạm: tới khoảng 27% N, nửa dạng amoni, nửa dạng nitrat (sổ tay phân bón của FAO và Hiệp hội Phân bón Quốc tế IFA).
Canxi: nằm trong phần bột đá; loại trộn dolomit có thêm chút magie. Phần đá này khó tan (IPNI), nên CAN trước hết là phân đạm, đừng coi là phân bổ sung canxi nhanh.
Quy đổi: 100 kg CAN 27% có khoảng 27 kg đạm nguyên chất; 1 kg urê (46% N) tương đương chừng 1,7 kg CAN 27%.
CAN khác urê, SA, amoni nitrat thế nào?
So với urê
Urê có 46% đạm, rẻ tính theo kg đạm. Nhưng FAO lưu ý urê rải mặt mà không vùi hoặc không gặp mưa trong vài giờ thì bay hơi amoniac nhiều, nhất là trên đất kiềm. CAN có sẵn nitrat và amoni nên ít bay hơi hơn hẳn. Bài tổng hợp của Powlson và Dawson (tạp chí Soil Use and Management, 2022) trích hệ số của Cơ quan Môi trường châu Âu: mỗi kg đạm bón vào, urê mất khoảng 155–210 g amoniac, CAN chỉ khoảng 8–21 g.
Thử nghiệm trên đồng cỏ của Teagasc (cơ quan nghiên cứu nông nghiệp Ireland) cho thấy CAN, urê và urê có chất ức chế urease thường cho năng suất gần như nhau, nhưng urê thu hồi đạm kém nhất. Đổi lại, CAN nhiều nitrat nên có thể sinh khí nhà kính N₂O nhiều hơn urê.
So với SA (amoni sunfat)
SA có 21% đạm, toàn bộ dạng amoni, kèm 24% lưu huỳnh (IPNI). Amoni chuyển thành nitrat trong đất thì sinh axit, nên SA làm chua đất mạnh; trên đất pH trên 7, SA cũng bay hơi amoniac nhiều ngang urê. Bù lại SA hợp ruộng lúa ngập, nơi đạm nitrat dễ bị mất.
So với amoni nitrat nguyên chất
Amoni nitrat có 33–34% đạm, hút ẩm mạnh và có thể bị lợi dụng làm chất nổ, nên nhiều nước siết việc mua bán (IPNI). Thêm bột đá thành CAN thì đạm còn khoảng 27%, theo IPNI là loại bỏ được tính nổ, nhưng phần đá không tan nên CAN không hợp hòa tưới nhỏ giọt.
CAN có làm chua đất không?
Đất chua dần chủ yếu do amoni bị vi sinh vật chuyển thành nitrat. Phần vôi trong CAN trung hòa phần lớn lượng axit đó. Khuyến nông Montana State xếp CAN 27% vào loại làm chua đất rất ít và khuyên dùng CAN thay urê ở nơi đất đang chua dần. “Rất ít” chứ không phải “không”: đất đã chua vẫn cần bón vôi theo kết quả phân tích đất.
Cây nào, đất nào hợp?
Đất chua hoặc đang chua dần.
Chỗ chỉ rải mặt, khó vùi: đồng cỏ, vườn cây, rau màu. IPNI cho biết amoni nitrat được ưa cho đồng cỏ vì rải mặt ít bay hơi hơn urê, và nhiều người trồng rau thích nguồn nitrat cây hút được ngay.
Đất kiềm, đất đá vôi, nơi urê và SA dễ mất amoniac.
Vùng bán khô hạn cận nhiệt đới: FAO và IFA nêu CAN là phân được ưa dùng ở đây.
Không hợp: ruộng lúa ngập nước (nitrat bị vi sinh vật biến thành khí bay mất) và tưới nhỏ giọt (bột đá lắng, nghẹt béc). Cần đạm nitrat kèm canxi tan hoàn toàn để tưới hoặc phun thì canxi nitrat hợp hơn.
Bón CAN thế nào?
Tính theo lượng đạm cây cần rồi chia cho 0,27 ra kg CAN. Lượng đạm cho từng cây, từng giai đoạn thì theo khuyến cáo cho cây đó hoặc hướng dẫn trên bao bì.
Rải đều trên đất đủ ẩm, không cần vùi gấp như urê; rải theo tán, tránh đổ thành đống sát gốc.
Chia nhiều lần. Nitrat tan nhanh, mưa to hay tưới đẫm ngay sau bón dễ cuốn đạm khỏi vùng rễ (IPNI).
Tránh bón khi đất sũng nước: đạm dễ mất thành khí, rễ cũng hút kém.
Bảo quản: CAN rất dễ hút ẩm
IPNI cho biết amoni nitrat hút ẩm mạnh, phải cất kho khô hoặc bao kín. CAN chứa phần lớn là amoni nitrat nên trời nồm là dễ chảy nước, vón cục.
Buộc kín bao, kê cao khỏi nền, để chỗ khô có mái che; bao đã mở thì dùng sớm.
Amoni nitrat trộn với phân khác thì không để lâu được (IPNI). Có trộn CAN với phân khác thì trộn xong bón luôn.
Lưu ý
Để phân xa lửa, xăng dầu, rơm rạ khô; không đốt vỏ bao.
Đeo găng tay, khẩu trang khi rải, rửa tay sau khi bón, cất xa trẻ em và vật nuôi.
Chọn bao có nhãn ghi rõ hàm lượng đạm, canxi hoặc magie.
Tóm lại
CAN là amoni nitrat trộn bột đá vôi hoặc dolomit, khoảng 27% đạm, nửa amoni nửa nitrat. So với urê và SA, CAN ít bay hơi amoniac hơn nhiều và làm chua đất rất ít, hợp đất chua, đất kiềm và chỗ chỉ rải mặt; không hợp ruộng lúa ngập và tưới nhỏ giọt. Cất thật khô, bón chia nhiều lần.
Bà con cần tư vấn thêm về chọn phân đạm cho ruộng vườn nhà mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: FAO và IFA (2000), “Fertilizers and their use – A pocket guide for extension officers”; Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), “Nutrient Source Specifics” số 22 “Ammonium Nitrate” và số 12 “Ammonium Sulfate”; Soil Use and Management (2022), Powlson và Dawson, “Use of ammonium sulphate as a sulphur fertilizer: Implications for ammonia volatilization”; Teagasc (Ireland), “Urea N Fertiliser”; Khuyến nông Đại học Montana State, Clain Jones, “Preventing Soil Acidification” (2018).
Ảnh minh họa: Rasbak, Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0).